Prvních 159 řádků.
Hãy tưởng tượng về tương lai của trái đất sau hàng triệu năm nữa
Ở một thế giới mà quá trình tiến hoá
đã viết nên một chương mới trong câu chuyện của sự sống.
Trái đất lúc đó sẽ có cư dân là rất nhiều sinh vật cực kì lạ,
mà hành tinh này chưa từng nhìn thấy.
TƯƠNG LAI HOANG DÃ
TẬP 4 Thảo nguyên tại Amazon
Trong vòng 5 triệu năm nữa
một đồng cỏ khổng lồ trải dài hơn 3000 km bắc ngang Nam Mỹ.
Đi săn mồi giữa bãi cỏ,
là những con chim khổng lồ.
Nhưng nếu so với những sinh vật sống ở đây trước kia,
thì khu đồng cỏ vẫn còn rất thưa thớt.
Cánh đồng cỏ rộng lớn này đã từng là một khu rừng nhiệt đới,
là rừng nhiệt đới amazon.
Chỗ các bãi cỏ từng là những rừng cây,
trải dài từ dãy núi Andes đến Đại Tây Dương.
Những khu rừng đã biến mất,
vì sau 5 triệu năm nữa,
Trái đất lại rơi vào một kỷ băng hà khác.
Khi nhiệt độ trái đất hạ thấp,
diện tích những chỏm băng ngày càng mở rộng,
trải dài từ hai cực bắc, nam cho tới những vĩ độ thấp hơn.
Khí hậu trở nên lạnh,
và khô hơn
kéo theo đó là sự thiếu hụt những cơn mưa vốn mang lại sự sống,
rừng nhiệt đới Amazon bị biến mất.
chỉ có những dòng sông lớn có thể cung cấp nước cho các khu rừng,
phần còn lại được thay thế bằng những đồng cỏ.
Ngày nay, những khu rừng nhiệt đới Amazon xum xuê đang dồi dào sức sống
là một trong những môi trường sống đa dạng nhất hành tinh.
Nhưng phần lớn những sinh vật sống tại đây
không được tiến hóa để tồn tại khi rừng nhiệt đới biến mất.
Những loài sinh vật như vẹt đuôi dài, lười hay lợn lòi,
tất cả đều phụ thuộc vào hệ sinh thái rừng phức tạp.
Chúng thích nghi với những đặc điểm riêng biệt của rừng nhiệt đới,
nên không thể tồn tại khi những khu rừng bị biến thành đồng cỏ.
Và, điều tồi tệ hơn là
sự thay đổi từ rừng thành đồng cỏ diễn ra quá nhanh
chỉ trong một vài nghìn năm
như một cái nháy mắt trong tiến trình tiến hoá.
Cánh đồng cỏ amazon này rất khác biệt so với rừng nhiệt đới .
Nhưng vẫn có một loài khỉ rừng đủ thích nghi để tồn tại trước những thay đổi
Những sinh vật kì lạ này gọi là babookari.
Sống trên đồng cỏ,
những con babookari tập hợp thành những bầy đàn đông đúc,
rải rác trong những vùng cỏ râm rạp.
Nhưng trong hiện tại loài khỉ nào ở Amazon
có thể thích nghi với cuộc sống trên những đồng cỏ như thế này?
Trong vòng 5 triệu năm nữa,
hầu hết rừng nhiệt đới tại Amazon sẽ biến mất.
Hiện tại, có một số lượng khổng lồ các loài khỉ đang sống trong các cánh rừng này,
ít nhất, một vài trong số đó, sẽ tiến hóa thành những chủng loài có thể chiếm lĩnh các đồng cỏ.
ví dụ như loài wakari.
là một loài có khả năng thích nghi tốt và sống trên cây,
chúng còn là động vật ăn tạp sống trên mặt đất,
loài kawari có tổ chức xã hội khá phát triển.
Tổ chức xã hội là một điều kiện cần thiết để tồn tại được ở những vùng đồng cỏ,
bởi vì việc sống theo bầy đàn giúp loài khỉ bảo vệ lẫn nhau khỏi những con thú săn mồi.
Khi rừng cây thưa dần,
những con wakari có thể tự tổ chức lại xã hội.
chúng tập hợp lại thành những bầy đàn với quy mô ngày càng lớn.
Để tiến hóa, tập tính này có thể thay đổi khá nhanh,
để tổ chức xã hội của loài wakari có thể nhanh chóng bắt kịp với sự thay đổi của môi trường sống.
Trong tương lai,
những con babookari cũng được thừa kế
màu lông sáng ở đầu như những con wakari,
nhưng chúng còn tiến hóa hơn.
Mặt và mông của chúng đều có lông màu xanh sáng,
điều này giúp các đàn sống rải rác trong một vùng rộng lớn có thể liên lạc với nhau,
và cũng để canh chừng rắc rối.
Loài babookari thường di chuyển khắp cả đồng cỏ,
tìm kiếm thức ăn trên một khu vực rộng lớn.
Đàn càng lớn đồng nghĩa với việc càng thêm nhiều cơ hội tìm kiếm được thức ăn.
Nhưng quan trọng hơn là,
tăng thêm sự cảnh giác.
để đề phòng những con thú săn mồi như loài chim sát thủ khổng lồ luôn kiếm ăn dọc theo đám cỏ cao.
Loài carakilla.
Cũng giống như loài babookari, chúng sống thành bầy đàn.
Nhưng để săn mồi.
Những con carakilla rất nhanh nhẹn,
nhưng chúng không chỉ rượt theo con mồi.
Một vài trong số chúng tách khỏi nhóm chính.
Những con babookari đang sắp tiến vào một trận mai phục.
Khi một con babookari đã bị giết,
những con carakilla còn lại trong đàn cũng sẽ tham gia vào bữa tiệc chiến thắng.
Những con khỉ chân dài này có thể lanh lẹ hơn một con carakilla,
Vì vậy những con carakilla phải đi săn thành đàn.
Một vài con lén chạy vòng qua đàn khỉ , nấp dưới đám cỏ cao và chờ đợi.
Chúng sử dụng chòm lông mao sặc sỡ của mình để ra hiệu cho những con khác,
những con còn lại lùa bầy khỉ vào bẫy.
Thông thường hầu hết bầy khỉ sẽ thoát được,
nhưng sẽ vẫn còn một hoặc hai con bị bắt.
Tổ tiên của loài chim khổng lồ này
chính là một loài thú săn mồi sống trên đồng cỏ ngày nay.
Loài carakilla là một trong những loài chim đặc chưng của vùng đồng cỏ.
Nhưng kích thước của chúng lớn
hơn nhiều so với hầu hết những loài chim hiện đại,
và tất nhiên lớn hơn những loài tổ tiên của chúng.
Mặc dù có chiều cao khoảng 3 mét,
nhưng chúng được tiến hoá từ những con chim ưng nhỏ sống trên cạn này.
Những con karakara rất phổ biến trên vùng đồng cỏ Nam Mĩ ngày nay.
Chúng tương đối giống với những con chim ưng nguyên thuỷ,
nhưng lại có mối liên hệ gần gũi hơn với loài chim cắt,
một loài khá phổ biến.
Nhưng chúng kiếm mồi và sống trên mặt đất chứ không phải là ở trên không.
Mặc dù những con karakara vẫn có thể bay,
những chiếc chân dài giúp chúng lục lọi trong đất.
Nhưng khi diện tích vùng đồng cỏ gia tăng,
chúng trở thành những con thú săn mồi điêu luyện.
Lí do chính khiến những con carakilla trở thành một loài thú săn mồi khá điêu luyện trên mặt đất
là bởi chúng đã từ bỏ khả năng bay.
Việc bay lượn tốn nhiều năng lượng,
năng lượng không chỉ bị mất đi khi bay lượn vòng trên không,
mà còn mất đi khi phát triển cánh và các cơ.
và cả những hệ thống mà cơ thể vận hành để định hướng.
Nếu không từ bỏ việc bay lượn,
sẽ rất dễ dàng tiêu tốn nhiều năng lượng,
xét về mặt tiến hóa, để trở nên nhanh hơn,
cách tốt nhất để nhanh hơn là phải to hơn.
Vậy chính xác cái gì đã xảy ra với loài karakara,
tổ tiên của những con carakilla hùng mạnh.
Việc thay đổi kích thước có thể xảy ra nhanh chóng về mặt tiến hoá.
Và 5 triệu năm là khoản thời gian khá dài để một con Karaka có thể tiến hóa trở thành
một con carakilla cao 3m.
Khoảng thời gian đó cũng đủ để loài chim này có thể tiến hóa được những kiểu giết con mồi khá ấn tượng.
Chúng ta đều biết, bằng việc vận dụng di truyền học,
bạn có thể dễ dàng làm một loài chim hiện đại phát triển thêm một cái vuốt.
Cái vuốt giống với tổ tiên khủng long của chúng.
Với cùng một hình thái và cùng một vị trí trên đôi cánh.
Kiểu tiến hóa đó đã xảy ra ở loài carakilla.
Nó phát triển cái vuốt hình lưỡi liềm lớn này,
giống như cái vuốt của loài khủng long,
và cách sử dụng vuốt cũng tương tự.
Vuốt được dùng để bắt, vồ lấy con mồi và để phanh bụng con mồi,
và để cắt thịt con mồi trước khi ăn.
Khi ở một mình những con carakilla đã khá dữ tợn,
Nhưng khi trong bày đàn chúng còn đáng sợ hơn.
Đặc tính xã hội của những con babookari
được tiến hóa tương ứng với những động vật săn mồi.
Nhưng để tồn tại ở vùng đồng bằng thì cần nhiều hơn là những thay đổi trong hành vi.
Cuộc sống trên đồng cỏ luôn đòi hỏi phải di chuyển những quãng đường dài.
Thức ăn thường rải rác trên một vùng rộng lớn
vì vậy để sống sót phải có khả năng di chuyển thật nhanh khi bị những con thú săn mồi rượt đuổi,
đó là lý do mà những loài động vật này đã phát triển các cặp chi dài và dẻo dai để có thể di chuyển trên những đoạn đường dài,
điều này cũng giúp chúng tìm thức ăn hiệu quả hơn,
chúng có thể thọc tay vào những khe đá, hoặc đào để kiếm thức ăn.
Những con babookari có những đôi tay khéo léo của loài linh trưởng
và tất nhiên là cả sư thông minh nữa
và chúng dùng cả hai điều đó trong việc tìm kiếm thức ăn.
Có những cái hồ nông, nhỏ nằm rải rác trên vùng đồng cỏ.
Và xung quanh bờ hồ,
là những cái ổ được đan theo một hình thù kỳ lạ
Như thể do con người làm ra.
Những cái ổ này được đan từ cỏ và những cành cây con,
và là nơi trú ngụ cho những loài cá nhỏ khỏi những con thú săn mồi.
Thực ra đó là những chiếc bẫy cá.
Được làm
bởi những con babookari.
No comments yet. Be the first to leave one.