The Future Is Wild

The Future Is Wild

Stáhnout Vietnamese titulky

Série 1

Informace o verzi

THE FUTURE IS WILD- S01E05 - COLD KANSAS DESERT
Komentář od quanphamkt

Tagy

other
Zveřejněno: 2022-03-13
Stažení: 31
Pro sluchově postižené: No

Náhled titulků v jazyce Vietnamese

Prvních 143 řádků.

Hãy tưởng tượng về tương lai của trái đất sau hàng triệu năm nữa

ở đó, quá trình tiến hoá đã

đã viết nên một chương mới trong câu chuyện của sự sống.

Trái đất lúc đó sẽ có cư dân là rất nhiều sinh vật cực kì lạ,

mà hành tinh này chưa từng nhìn thấy.

TƯƠNG LAI HOANG DÃ

TẬP 5 Sa mạc Kansas lạnh lẽo

5 triệu năm nữa,

một sa mạc khắc nghiệt và hoang vắng.

nhưng vấn đề đối với bất cứ sinh vật nào sinh sống tại đây không phải là cái nóng

Mà là sự lạnh lẽo

Đây là một sa mạc vào kỉ băng hà

Những loài động vật kỳ lạ sinh sống dựa vào lượng thực vật ít ỏi.

Và ăn thịt lẫn nhau

Ở đây có rất ít nước .

Những cơn gió mạnh thổi liên tục từ những mũi băng ở phía bắc

Sa mạc này đã từng là vùng đất nông nghiệp màu mỡ nhất ở Bắc Mĩ.

Nhưng trong tương lai vào kỉ băng hà

Những vỉa băng dài 2000 km lan rộng về phía Nam, đến tận Chicago,

biến vùng đất từng là vựa lúa mì

trở thành khung cảnh lạnh lẽo và khô cằn.

Những cơn gió thổi bay cát và bụi với vận tốc hàng trăm km 1 giờ

tạo ra những đụn cát lớn trên sa mạc

Đây là con rattleback và con của nó.

Loài rattleback là một trong số rất ít loài động vật

Có thể sống sót trên mặt đất sau những cơn bão cát sa mạc

Những bụi cây lá kim trên sa mạc không phải là nơi ẩn trú an toàn.

Và những con ratteback phải tiếp tục bước đi

Tiếp tục chiến đấu với những trận gió

Chúng chỉ có một sự bảo vệ duy nhất

đó là bộ vảy của chúng

và sự đoàn kết lẫn nhau.

Có những loài động vật sinh sống trong sa mạc này,

nhưng tất cả chúng đều phải học cách thích nghi với những điều kiện khắc nghiệt.

Một trong số đó là loài rattleback.

Loài rattleback ở sa mạc này được tiến hóa

từ loài rattleback ở vùng đồng cỏ nam Mĩ

Loài rattleback ở vùng đồng cỏ sử dụng những chiếc vẩy để tự vệ và phô diễn sức mạnh.

Loài Rattleback tiến hóa từ loài chuột nam mĩ

và đã thích nghi rất tốt với điều kiện nơi đây

Chúng nhanh chóng mở rộng lãnh thổ từ vùng đồng cỏ

cho tới Bắc Mĩ.

Loài rattleback Nam Mĩ

có bộ vảy rất cứng để có thể tự vệ trước những loài săn mồi ở vùng đồng cỏ Amazone,

nhưng loài rattleback ở sa mạc thì có hình dáng rất khác

Chúng không có những lớp vảy dày

vì không có nhiều loài săn mồi lớn ở sa mạc.

Nhưng lớp vảy của chúng là sự bảo vệ hoàn hảo trước những cơn bão cát sa mạc.

Những cái vẩy nhỏ và đan kết với nhau chặt hơn

bề mặt vẩy được bao phủ bởi lớp lông dày ,

tất cả điều đó để bảo vệ loài rattleback khỏi sức mạnh của bão cát.

Không giống với tổ tiên, một đặc điểm thích nghi khác nữa của chúng là

Chúng có đuôi to và dài

Những con rattleback không cần phải lo lắng vì không có những loài động vật săn mồi đủ to lớn

để có thể vồ lấy chúng.

Và chiếc đuôi dài đó cũng đóng vai trò là nơi trữ mỡ phòng khi thiếu thức ăn

và tất nhiên còn là nguồn cung cấp nước.

Không có nước để uống,

những con rattleback phải đi hàng trăm km mỗi ngày để tìm thức ăn

Hầu hết thức ăn của chúng nằm trong lòng đất.

Vài loài sinh vật , chẳng hạn như những con spinks này.

Tồn tại dưới sự khắc nghiệt của sa mạc bằng cách sống dưới mặt đất

Và thế giới của chúng đang bị xâm phạm

Nhưng con rattle back không muốn bắt những con spinks này

tất cả những gì nó muốn là một loại củ

vốn là phần rễ giàu dinh dưỡng của một loài cây mọc trên cát.

Loại củ này cung cấp thức ăn và nước cho những con rattleback đang đói.

Những loài động vật trong sa mạc này buộc phải tìm cho mình một cách thức để tồn tại,

chúng buộc phải phát triển một cơ chế để tồn tại qua thời gian

những khi có nhiều thức ăn cũng như khi thức ăn khan hiếm.

Một nơi trong sa mạc với môi trường an toàn và ổn định hơn đó là trong lòng đất.

Đây là một con chim đào hang.

Mặc dù trông không giống chim,

Nhưng con spink này thực sự là một con chim.

Nó được tiến hóa từ loài chim Galliform

Đó là tên gọi chung của các loài chim như gà lôi, gà gô hay gà gô trắng.

Chúng là những loài sống chủ yếu trên mặt đất.

Loài này cũng bao gồm cả chim cút,

tổ tiên của loài spink.

Trong hiện tại, loài chim cút sống chủ yếu ở bắc mĩ

Chúng có thể bay,

nhưng lại dành nhiều thời gian trên mặt đất.

Vì vậy, đối với chúng, việc đào bới trong lòng đất thực sự không phải là một bước tiến hóa lớn.

Những con chim cút trở nên nhỏ hơn,

cơ thể của chúng hạ thấp gần mặt đất hơn,

và chúng mất đi khả năng bay.

Lông của chúng cũng trở nên nhỏ hơn rất nhiều

tạo thành một lớp cách nhiệt,

giống như lông của những động vật có vú.

Rất nhiều sợi lông tơ mỏng xung quanh mặt chúng,

giữ cho mắt chúng không bị cát và bụi lọt vào.

Hai cánh trở thành chân trước,

vì vậy chúng đi bằng cả 4 chân,

nhưng vai trò chính của những chiếc cánh là đào bới

Lông của chúng được tạo thành từ chất keratin.

Đó cũng là chất tạo nên móng vuốt ,mỏ và vài thứ khác.

Keratin là chất có thể thay thế đươc, chúng nhẹ, và cứng,

nếu như bạn sắp xếp những chiếc lông này theo hình của một chiếc xẻng,

bạn có thể dùng nó để đào.

Những con spink đào những chiếc hang dài trong lòng đất,

Chúng đào đất bằng mỏ và cánh

Việc những con chim đào và sống trong những chiếc hang thật sự rất lạ lùng

Nhưng trong hiện tại, có những loài chim cũng có cách sống như vậy

Những con chim hải âu xây tổ trong những chiếc hang mà chúng đào trên các vách đá .

Chân chúng có màng với những ngón chân và vuốt sắc để đào đất.

Một cặp chim hải âu đào một chiếc hang giữa chúng,

nhưng cái hang mới chỉ sâu 1m.

Những con chim bói cá cũng đào những chiếc hang với độ sâu tương tự ở bờ của những con sông.

Còn những con chim trảu thì đào hang khắp cả vách đá.

Nhưng tất cả các loài chim này chỉ dùng những chiếc hang cho việc cư ngụ

bảo vệ và chăm sóc con non.

Những con Spink, thì khác.

Chúng dành phần lớn thời gian sống trong những chiếc hang tối tăm của mình

Lý do chính là vì nguồn thức ăn của chúng

Con spink này đang tìm những củ cây.

Bằng việc đào bới, nó đang tìm những cái cây có thể cho thức ăn.

Loài spink có những quy tắc rất đặc biệt trong bầy đàn.

Chúng phát triển một hình thức tổ chức cộng đồng mà chúng ta hiếm thấy ngày nay

rất hiếm các loài động vật có xương sống, nhưng lại thường thấy hơn ở các loài côn trùng.

, Để đào một hệ thống hang lớn như thế này,

những con Spink phải làm việc cùng nhau.

Chúng có một sự phân biệt tầng lớp khá rõ ràng,

những con Spink thợ luôn đào đất để mở rộng và duy trì hệ thống hang và đường hầm .

Càng sâu vào lòng đât, những cái ổ càng lớn,

đó là nơi những con Spink cái , những con chúa , ấp trứng,

hầu hết những quả trứng này sẽ nở ra những con Spink thợ.

Tất cả thành viên của bầy đàn giao tiếp với nhau bằng tiếng kêu

Chúng sử dụng những thanh âm có tần suất cao khi liên lạc ở cự ly ngắn,

và âm thanh với tần suất thấp hơn khi liên lạc ở cự ly dài giữa những thành viên của bầy đàn.

Những con Spinks sống trong những bầy đàn lớn do loại củ cây mà chúng ăn

mọc rải rác khắp sa mạc.

Chúng có thể xây dựng một hệ thống hang đủ lớn

và sống thành một xã hội phức tạp có phân chia tầng lớp ,

với một đội ngũ những con spink thợ siêng năng.

Trong hiện tại, cũng tồn tại sự phân công lao động như vậy.

Loài chuột chù sống thành đàn lớn dưới mặt đất,

đào những chiếc hang và ăn rễ cây.

Hầu hết những con chuột trù đều là những con thợ

chúng chẳng bao giờ sinh sản,

nhưng thay vì thế, chúng dành phần lớn thời gian để đào hang.

Chuột chù đào bới bằng những chiếc răng,

những chiếc răng đó phát triển liên tục.

Những con spink đào hang bằng mỏ,

The Future Is Wild subtitles in other languages

More Vietnamese subtitles for The Future Is Wild

Komentáře

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left