Soviet Storm: WW2 in the East

Soviet Storm: WW2 in the East

دانلود زیرنویس Vietnamese

هماهنگ با نسخه‌های زیر

Soviet Storm- World War II — In The East ep 12 War in the Air StarMedia
ناشر pmqcondeo
Khớp với Youtube StarMedia

برچسب‌ها

other
تاریخ انتشار: 2018-12-23
تعداد دانلود: 47
مخصوص ناشنوایان: No

پیش‌نمایش زیرنویس Vietnamese

نخستین 200 خط.

BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG

Cuộc xâm lược của Hitler hoàn toàn gây bất ngờ cho Không quân Liên Xô VVS.

Không quân Đức Luftwaffe dày dặn kinh nghiệm và trang bị tốt hơn hẳn.

Đối với các phi công Xô-viết, thời kỳ đầu chiến tranh là cuộc chiến cốt để giữ lấy mạng.

Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.

Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.

“Tớ bắn trúng rồi, Hans ơi!”

“Cứ từ từ, chạy đâu cho thoát!”

Ngày đầu tiên của chiến tranh.

CUỘC CHIẾN TRÊN KHÔNG.

Hai chiếc Messerschmitt Bf-109 đang tấn công một chiếc tiêm kích “Hải Âu” Xô-viết.

Đột nhiên một chiếc “Hải Âu” khác xuất hiện đằng sau hai chiếc tiêm kích Đức.

“Một thằng Nga khác hướng 6 giờ.”

“Ngoặt lại!”

Máy bay Đức bỏ dở chiếc máy bay bị thương để đuổi theo chiếc mới đến.

Chúng bắn thủng nhiều lỗ trên thân chiếc máy bay Xô-viết

nhưng không tài nào hạ được nó.

Chiếc “Hải Âu” này do Trung úy Rechkalov lái

và đây là lần thử lửa đầu tiên của ông.

Năm ngày sau, Grigory Rechkalov bắn hạ chiếc máy bay Đức đầu tiên của mình.

Ông tiếp tục và hạ được tổng cộng 61 chiếc ,

trở thành phi công Át Xô-viết có thành tích đứng thứ 3 trong chiến tranh.

Ông được 2 lần trao tặng Anh hùng Liên Xô, phần thưởng cao quý nhất của Liên Xô.

Một hội đồng quân y đã tuyên bố Rechkalov không đủ khả năng chiến đấu vì bị mù màu.

Nhưng khi ông vừa báo điều đó cho trung đoàn mình thì chiến tranh nổ ra,

và ông lập tức được đưa vào chiến đấu.

“Thưa đồng chí Đại úy! Trung sĩ Rechkalov báo cáo có mặt!”

“Hội đồng quân y đánh trượt nhưng tôi muốn được...”

“Có thấy cái Hải Âu số 13 kia không?” “Thấy.”

“Mau chuẩn bị cất cánh. Cậu chở 1 kiện hàng tới Beltsy.”

“Vâng.”

Năm 1941, loại tiêm kích chủ lực của Liên Xô là I-153 “Chaika”

và I-16 “Ishak” (Con Lừa).

Chúng được thiết kế bởi Phòng thiết kế Polikarpov, do Nikolai Nikolaievich Polikarpov đứng đầu.

“Hải Âu” là kiểu máy bay giỏi lượn vòng,

nhưng tốc độ chậm đến khốn khổ so với Messerschmitt Bf-109 của Đức.

Phi công Xô-viết chạm trán lần đầu với “109” trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha,

và lập tức thấy rõ đây là mối đe dọa nghiêm trọng.

Messerschmitt Bf-109 được thiết kế bởi Willy Messerschmitt

thuộc Bayerische Flugzeugwerke BFW (Xưởng máy bay Bayer).

Nó trở thành loại tiêm kích được sản xuất nhiều nhất cuộc chiến.

Tháng 6/1941, phiên bản F mới nhất có tốc độ cực đại 615 km/giờ,

so với 420 km/giờ của “Hải Âu”.

Nó gắn 2 súng máy và 1 pháo 20 mm,

nghĩa là Messers 109 cũng có hỏa lực vượt trội.

Khả năng cơ động cao của “Hải Âu” giúp phi công Xô-viết vẫn thoát thân được nhưng không bao giờ có thể chủ động không chiến.

Trong ngày đầu tiên của cuộc chiến, có hơn 300 máy bay Xô-viết bị bắn hạ,

nhưng có tới 1.400 bị phá hủy trên mặt đất.

Thiệt hại lớn nhất là tại Belorussia,

nơi Sư đoàn Không quân Hỗn hợp số 9 của Tướng Chernykh, trang bị loại mới MIGG-3,

bị thiệt hại 347 máy bay trên tổng số 409 chiếc.

Sergei Aleksandrovich Chernykh là một Anh hùng Liên Xô,

cựu chiến binh Nội chiến Tây Ban Nha và là phi công Xô-viết đầu tiên bắn rơi 1 Messers 109.

Nhưng giờ đây, ông phải giơ đầu chịu báng cho thất bại của Không quân VVS, bị bắt và xử bắn.

Phương diện quân Tây bị mất 738 máy bay,

528 trong số đó là trên mặt đất.

Khi Tư lệnh Không quân tại Belorussia, Tướng Kopets,

nhận ra quy mô của thảm họa, ông đã dùng súng lục tự sát.

Những con người này là các phi công trẻ tài năng được thăng quá nhanh lên làm chỉ huy cao cấp

để điền đầy khoảng trống do cuộc thanh trừng các sĩ quan không quân cao cấp của Stalin.

Nhưng khi chiến tranh nổ ra, họ lúng túng không biết xử trí ra sao.

Dù bị thiệt hại nặng nề trong ngày đầu tiên,

tàn binh của Không quân Xô-viết VVS bắt đầu chống trả lại.

“Phi đội, tôi thấy một đoàn xe địch, tấn công!”

Ngày 25/6, 27 máy bay ném bom Tupolev SB

đã tấn công Tập đoàn quân Xe tăng 2 của Đức

đang hành quân tới vượt sông Shchara ở Belorussia.

Các máy bay ném bom đã phá hủy xe địch và chỗ vượt sông.

Trên đường về, các máy bay SB bị tiêm kích Đức tấn công.

10 chiếc bị bắn hạ.

Các trung đoàn cường kích mặt đất và tiêm kích Xô-viết trực thuộc Bộ chỉ huy tập đoàn quân,

nhưng máy bay ném bom lại thuộc Bộ chỉ huy phương diện quân hoặc cụm tập đoàn quân.

Cơ chế này tỏ ra gần như không thể phối hợp hoạt động giữa các bên.

Máy bay ném bom lên đường không có tiêm kích bảo vệ,

hay tiêm kích được lệnh phải tấn công mục tiêu dưới đất.

Chiến thuật kém của Liên Xô cũng lộ rõ.

Phi công ném bom được huấn luyện bay theo đội hình rời rạc,

có nghĩa là súng máy của họ không thể hỗ trợ lẫn nhau.

Chiến thuật và cách tổ chức của Liên Xô cần phải được mau chóng cải tổ.

Tuy nhiên, máy bay ném bom Xô-viết vẫn tiếp tục tấn công Lục quân Đức,

cùng với các mục tiêu chiến lược bao gồm Königsberg ở Đông Phổ,

Warszawa, Cảng Constantsa và vùng lọc dầu Ploiesti của Romania.

Một trong những phi công bảo vệ vùng giếng dầu thiết yếu của Romania là Thượng úy Günther Rall.

Ngày 26/6, đơn vị của ông đánh chặn các máy bay ném bom Xô-viết

quay về sau cuộc không tạc Ploiesti.

Rall bắn rơi 3 máy bay ném bom,

các đồng đội của ông ta hạ thêm 6 chiếc khác.

Translator: SagePhamKT

Günther Rall đăng lính bộ binh năm 1936.

Hai năm sau ông chuyển sang Không quân Luftwaffe và học lái tiêm kích.

Ông ta tham chiến lần đầu tại Pháp năm 1940 và bắn hạ 2 chiếc.

Kết thúc chiến tranh, ông ta đứng thứ 3 trong số các phi công

tiêm kích Đức thành công nhất với 275 máy bay địch.

Không quân Đức không chỉ có ưu thế về chất lượng máy bay,

họ còn được huấn luyện tốt tuyệt vời.

Họ tuân theo phương châm của phi công Át huyền thoại của Đức trong Thế Chiến thứ I,

Nam tước Đỏ Manfred von Richthofen:

“Hãy tìm ra địch và bắn hạ. Mọi thứ khác đều vô nghĩa.”

Phi công tiêm kích Đức chiến đấu gần như theo các trận chiến riêng rẽ,

giống một cuộc thi điền kinh hơn,

trong đó chỉ có thành tích cá nhân là quan trọng hơn cả.

Rút ra từ kinh nghiệm của mình trong Nội chiến Tây Ban Nha,

các phi công tiêm kích Luftwaffe tự sáng tạo ra chiến thuật cho riêng mình.

Họ bay theo đội hình linh hoạt gồm 2 cặp, gọi là “Bốn ngón”,

cho phép họ khai thác sự vượt trội về tốc độ của mình.

Không quân các nước khác như Anh và Liên Xô bay theo đội hình cứng nhắc hình chữ V,

trong đó phần lớn thời gian phi công phải tập trung để giữ được đội hình.

Trong trường hợp của Không quân Xô-viết VVS, một đội hình chặt chẽ là cần thiết

vì hầu hết máy bay đều chưa có máy điện đàm.

Các chỉ huy biên đội phải liên lạc bằng cách lắc cánh hay ra dấu bằng tay.

Điều này khiến phi công không được tự do để cơ động.

Vài tuần trước khi Đức xâm lược,

một loại máy bay mới tinh bắt đầu được chuyển đến các trung đoàn cường kích mặt đất Xô-viết.

Đó là Il-2, sẽ là loại máy bay Xô-viết nổi tiếng nhất cuộc chiến.

Il-2 Sturmovik được thiết kế bởi Sergei Ilyushin

và được đưa vào phục vụ từ tháng 5/1941.

Thiết kế của ông sớm được đặt biệt danh “Xe tăng bay”.

Il-2 có gắn pháo, súng máy, đeo bom và tên lửa,

được bảo vệ dưới bụng bằng thép tấm.

Có hơn 36.000 được xuất xưởng,

khiến đây là loại máy bay quân sự được chế tạo nhiều nhất trong lịch sử.

Đơn vị đầu tiên được nhận Il-2 là Trung đoàn Sturmovik 4,

nhưng chiến tranh nổ ra trước khi các phi công có cơ hội được huấn luyện với nó.

Họ tập cất cánh và hạ cánh

nhưng chưa được bay thành đội hình hay thậm chí sử dụng vũ khí trên máy bay.

Một số phi công còn chưa từng nhìn thấy tên lửa RS trước đây,

vậy mà giờ người ta muốn họ sử dụng chúng đi chiến đấu.

Ngày 27/6, các phi công Đại úy Spitsin, Chính trị viên Filippov và Đại úy Kholobaev

cất cánh thực hiện phi vụ đầu tiên của mình.

“Nhắm bắn tên lửa thế nào nhỉ?”

“Lái kính ngắm vào mục tiêu... rồi ấn nút thôi!”

Họ tấn công đoàn xe Đức ở tầm bay thấp,

chỉ dùng được súng máy

do khẩu pháo 20 mm trục trặc kỹ thuật.

Cả ba phi công đều về được sân bay.

Máy bay của Kholobaev bị thủng lỗ chỗ.

Thân máy bay dính đầy dầu đen.

Chiếc máy bay coi như vứt đi

nhưng phi công vẫn lành lặn.

Một tuần sau trung đoàn nhận được giấy tuyên dương của tư lệnh Phương diện quân

vì đã phá hủy được 9 điểm vượt sông Berezina.

Nhưng thiệt nặng cũng rất nặng.

Đến giữa tháng 7, trong tổng số 56 máy bay của trung đoàn

chỉ 10 chiếc còn hoạt động.

Vào tháng 8, trung đoàn bàn giao 3 máy bay còn lại cho đơn vị bên cạnh

rồi trở về phía Đông để tái tổ chức.

Trong mùa hè đầu tiên của cuộc chiến,

trung bình một chiếc Ilyushin Il-2 bị gạch tên chỉ sau 8-9 phi vụ.

Trong một số trung đoàn tuổi thọ này chỉ là 3-4 phi vụ.

Nhưng chiến thuật và việc huấn luyện tốt hơn đã dần dần cải thiện được tỷ lệ sống sót.

Đến 1945, trung bình đã tăng tới 90 phi vụ.

Mùa thu năm đó, Grigory Rechkalov bị thương trong một phi vụ chiến đấu.

Dù bị thương nặng ở chân, ông vẫn hạ cánh được về đến căn cứ.

Tính đến khi ấy, ông đã hạ được 3 máy bay Đức.

Đến cuối năm 1941, Không quân Xô-viết VVS đã mất hơn 20.000 máy bay.

Luftwaffe chỉ mất 3.800.

Nhưng dù thành công như vậy, Luftwaffe vẫn tỏ ra

không thể đánh phá hiệu quả vào tuyến vận chuyển và hệ thống hạ tầng của Liên Xô.

Luftwaffe được thiết kế ưu tiên để hỗ trợ các chiến dịch mặt đất,

nó không có máy bay để thực hiện việc ném bom chiến lược.

Luftwaffe không thể ngăn cản cuộc sơ tán nền công nghiệp Xô-viết về vùng Ural,

hay quyết liệt ngăn cản viện quân Xô-viết di chuyển từ nội địa nước Nga.

Các cuộc không kích của Đức vào Maskva đã nhấn mạnh vào yếu điểm ấy.

Tiêm kích Xô-viết, được hỗ trợ bởi hệ thống phòng không dày đặc,

đã ngăn cho thủ đô không bị thiệt hại nào đáng kể.

Đến cuộc phản công mùa đông, Không quân Xô-viết đã chiếm tỷ lệ gần 3:1 so với Luftwaffe

và chẳng mấy chốc họ bắt đầu nhận được một số loại máy bay kiểu mới vô cùng cần thiết.

Trên một sân bay tại Nga, một chiếc máy bay đang lượn

chợt rung lên rồi chúi đầu xoay tròn.

Phía dưới đất, người thiết kế ra nó, Semyon Lavochkin, đang lo sợ điều tệ nhất.

Ngày hôm trước, ông đã nói với phi công rằng

“Đừng có thử cánh lái đuôi, cậu sẽ phá hỏng mẫu thử và mất mạng như chơi.”

Nhưng phi công đã mau chóng cải bằng về đường bay ngang.

“Máy bay dễ điều khiển, phi công lái có hơi lỗi cũng không sao.”

“Các phi công trẻ sẽ lái nó ngon lành.”

Hai tuần sau, Hội đồng Quốc phòng GKO chấp thuận đưa vào sản xuất tiêm kích LaGG-3

nhưng gắn động cơ kiểu mới M-82.

Nó sẽ được đặt tên là La-5.

Tiền bối của nó, LaGG-3,

được thiết kế năm 1940 bởi Lavochkin, Gorbunov và Gudkov.

Do Liên Xô bị thiếu nhôm,

máy bay này có khung gỗ với các bộ phận quan trọng làm từ gỗ dán,

được sấy khô và nén dưới nhiệt độ cao.

Cách này khiến gỗ rất chắc và chịu được lửa

nhưng vẫn nặng hơn so với nhôm.

Trọng lượng nặng và động cơ yếu khiến LaGG-3 chậm và khó cơ động.

Mùa thu 1941, người ta quyết định ngưng sản xuất tiêm kích LaGG

để chuyển sang tập trung làm Yak-7.

Cuối năm 1941, Yak-7B được xem là loại tiêm kích tốt nhất của Liên Xô.

Nó trang bị 1 pháo, 2 súng máy

và có tốc độ tối đa 599 km/giờ.

Phòng thiết kế Lavochkin có cơ bị đóng cửa.

Cứu cánh của nó là loại động cơ mới mạnh hơn M-82 làm mát bằng không khí.

Gắn trên khung thân LaGG-3, nó cho ra đời chiếc La-5

và Xưởng thiết kế Lavoshkin được quay trở lại hoạt động.

vài ngày trước khi Phòng thiết kế được sơ tán tới Kavkaz,

phi công thử nghiệm Vasily Mashenko lái mẫu thử bay lần đầu.

Trong năm đầu của cuộc chiến, Liên Xô phải chịu những tàn phá to lớn quét qua trên khắp lãnh thổ

và những mất mát khủng khiếp.

Trong số 22.600 xe tăng có trong tay trước chiến tranh, chỉ còn lại khoảng 2.000.

Soviet Storm: WW2 in the East subtitles in other languages

نظرات

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left