نخستین 200 خط.
Sự ủng hộ từ khán giả giúp chương trình thành công. Xin hãy ủng hộ đài PBS.
BỘ PHIM CHỨA ĐỰNG NỘI DUNG NHẠY CẢM, TỪ NGỮ NẶNG NỀ VÀ HÌNH ẢNH BẠO LỰC.
Tôi lớn lên ở một cộng đồng làm nông nghiệp nhỏ
ở Worthington, miền nam Minnesota.
Kiểu thị trấn nhỏ như quê tôi ở nước Mỹ rất an lành.
Một nơi tuyệt vời để lớn lên.
Mùa hè có giải bóng chày Little League và mùa đông thì có khúc côn cầu.
Mọi người đều biết chuyện tốt xấu của nhau
cũng như chuyện gia đình và bọn trẻ hư hỏng thế nào.
Có đầy những thanh niên sinh hoạt ở Kiwanis và Elks,
các câu lạc bộ đồng quê và mấy bà nội trợ tám chuyện
và mấy ông mục sư đạo mạo.
Tôi nhớ ngày lệnh nhập ngũ của tôi được gửi tới. Đó là một buổi chiều mùa hè,
có lẽ là tháng 6 năm 1968.
Tôi nhớ đã đem bao thư vào nhà
và đặt nó lên bàn bếp chỗ bố mẹ tôi đang ăn trưa.
Và họ còn không thèm đọc. Họ chỉ nhìn là biết nó là gì.
Bữa trưa lặng như tờ.
Tôi không nói, mẹ lẫn bố tôi cũng không nói gì.
Chỉ có lá thư đó nằm ở giữa bàn ăn. Nó làm tôi muốn khóc đến tận hôm nay,
không phải vì tôi mà là vì bố mẹ tôi,
cả hai đều từng là lính Hải quân trong Thế chiến II,
đã từng tin tưởng phục vụ cho đất nước và những giá trị tương tự.
...cần cân nhắc mọi người dân đều có thể là kẻ thù...
Một mặt, tôi đã nghĩ đó không phải là cuộc chiến chính nghĩa.
Mặt khác, tôi yêu đất nước tôi. Tôi trân trọng cuộc sống của mình
ở một thị trấn nhỏ cùng với bạn bè và gia đình.
Và mùa hè năm 1968, tôi đã trăn trở về việc phải làm.
Ít nhất là với tôi, việc trăn trở đó giày vò,
khó chịu và đau đớn hơn bất cứ điều gì xảy ra ở Việt Nam.
Cuối cùng, tôi đầu hàng.
Một ngày nọ, tôi lên xe buýt với mấy sinh viên vừa tốt nghiệp khác,
và bọn tôi đến Sioux Falls cách khoảng 96 cây số,
giơ tay tuyên thệ và gia nhập Lục quân.
Nhưng đó là một quyết định từ bỏ.
Tôi buông xuôi bản thân,
bỏ mặc lương tri của mình, dẹp qua một bên
để không phải nghe nó nói, "Mày đang làm một điều xấu xa và ngốc nghếch
và không yêu nước".
Số thương vong tuần rồi trong cuộc Chiến tranh Việt Nam công bố hôm nay
cho thấy 299 lính Mỹ hy sinh, con số thấp nhất trong hai tháng qua.
PRA-HA
Đến tháng 6 năm 1968, tinh thần cách mạng
về cuộc Chiến tranh Việt Nam, sự bất công, nhân quyền ,
dường như đã lan ra khắp nơi.
Áp lực để chấm dứt chiến tranh tăng lên.
Tổng thống Lyndon Johnson đã quyết định không tái tranh cử,
những vụ ám sát, bạo động làm đảo lộn đất nước,
và cả nước đang chuẩn bị bầu ra một Tổng thống mới.
Trong khi đó, đàm phán ngoại giao giữa Mỹ và miền Bắc ở Paris
không đi đến đâu.
Phía Cộng sản nhất quyết không đàm phán cụ thể
cho đến khi Mỹ ngừng tất cả các vụ đánh bom ở miền Bắc Việt Nam.
Bộ trưởng Quốc phòng mới, Clark Clifford,
người chuyển từ chủ chiến thành chủ hòa sau vài tháng nhậm chức,
khẩn cầu Tổng thống dừng hẳn việc ném bom.
"Ta chỉ có thể hy vọng thành công ở bàn đàm phán", ông nói với Johnson.
"Ta ở trong thế không thể thắng".
Tổng thống từ chối ngừng ném bom.
Các tháng sau đó, có nhiều báo cáo về tiến triển trên chiến trường
và vùng nông thôn.
Nhưng tiến triển quá chậm và trả giá sinh mạng quá cao
khiến phong trào phản chiến trong nước ngày càng dữ dội hơn,
các tầng lớp và các thế hệ đối chọi nhau,
người dân lan truyền nghi ngờ việc các nhà lãnh đạo chính trị không thể
hoặc không muốn kết thúc cuộc chiến.
Thanh niên từ khắp mọi miền đất nước tiếp tục
đối mặt với các câu hỏi và lựa chọn
mà ông cha họ hiếm khi phải đối diện
trong các cuộc chiến khác trước đây.
Công dân có nghĩa vụ gì với đất nước của mình?
Nên làm gì khi được yêu cầu chiến đấu nhưng lại không tin vào cuộc chiến?
Làm sao một người lính phân biệt giữa kẻ thù
với các thường dân Việt Nam mà đáng ra họ phải bảo vệ?
Mùa hè năm 1968 để lại một trong những hệ quả lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.
TẬP BẢY - NƯỚC SƠN CỦA NỀN VĂN MINH
Đầu năm nay, các lãnh đạo cấp cao của Mỹ thề rằng
tiền đồn của Thủy quân Lục chiến Mỹ ở Khe Sanh
sẽ được bảo vệ bằng mọi giá sau một cuộc vây hãm 77 ngày của địch.
Johnson từng nói vào mùa thu năm 1967,
đầu năm 1968 rằng, "Tôi không muốn có thêm trận Điện Biên Phủ thứ hai".
Nên toàn bộ quân đội Mỹ, từ Hội đồng Tham mưu trưởng trở xuống,
dù họ có nghĩ về việc bảo vệ Khe Sanh hay không,
đều cố hết sức phá vỡ sự bủa vây của địch.
Thời điểm một tuần sau khi vòng vây hãm bị phá vỡ,
họ đã cày xới căn cứ lên và rời đi.
Đó là bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam.
Có một chỉ huy mới sang Việt Nam,
Tướng Creighton W. Abrams, người hùng của Thế chiến II,
một người lính hơn cả lính, một phóng viên viết,
người "có thể biến điềm tĩnh thành hiếu chiến".
Vài nhà báo từng mô tả ông trông lúc nào cũng xộc xệch với điếu xì gà.
Ông ấy cộc cằn và uống rất nhiều rượu.
Ông hay gắt gỏng vào buổi sáng nên nhân viên hay sắp lịch hẹn
với các tướng gây rắc rối cho ông vào buổi sáng.
Abrams là bộ mặt mới của Mỹ trong cuộc chiến.
Phóng viên thấy ông thẳng thắn và cởi mở hơn người tiền nhiệm.
"Chính sách quan hệ công chúng của Bộ chỉ huy này", ông nói với cấp dưới,
"là sẽ để kết quả tự lên tiếng".
Một sĩ quan kể, "Thỉnh thoảng, bọn tôi được phép
nói thẳng rằng cả tháng nay chẳng làm được gì".
Nhiều binh sĩ vẫn tin cho tới tận giờ,
rằng nếu Abrams nắm quyền sớm hơn thì kết quả cuộc chiến có thể đã khác .
Cấp trên nói rất ngắn gọn,
"Ta phải đếm được càng nhiều xác càng tốt.
Hôm nay anh giết bao nhiêu bọn da vàng?" Đó là tỉ lệ thương vong của địch
để xác định anh thắng hay thua. Nên nếu anh giết 20 người của quân đội miền Bắc
và chỉ mất hai người,
họ tuyên bố trận đó là một chiến thắng vĩ đại.
Trung úy Vincent Okamoto được sinh ra trong Thế chiến II
ở trại tập trung người Mỹ gốc Nhật
ở Poston, Arizona, con trai thứ bảy của gia đình Nhật nhập cư.
Cả sáu anh em của ông đều phục vụ trong quân đội,
hai người phục vụ ở Trung đoàn Chiến đấu 442 nổi tiếng
ở Ý và Pháp,
đơn vị lừng lẫy nhất trong thế chiến,
và khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam, Okamoto tin là mình cũng nên sang đó.
Bấy giờ ông là Trung đội trưởng ở Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 2,
Trung đoàn 27, Sư đoàn Bộ binh 25, đóng quân ở Củ Chi,
cách Sài Gòn khoảng hơn 30 km về phía tây bắc,
một khu vực chằng chịt hệ thống địa đạo dài hàng cây số do Việt Cộng đào.
Bố mẹ tôi là người Nhật nhập cư.
Tôi ăn gạo mỗi ngày theo nghĩa đen cho đến khi tôi vào quân đội.
Chúng tôi tiến hành một cuộc bao vây và rà soát một ngôi làng.
Không tìm thấy vũ khí, tài liệu cộng sản hay gì cả.
Nên chúng tôi nghỉ ăn trưa khá lâu. Ai cũng muốn tránh nắng.
Cậu lính truyền tin, lính cứu thương và tôi vào một căn nhà và có...
có ba người phụ nữ, một đứa trẻ ẵm trên tay và một đứa trẻ tầm bốn tuổi.
Bà ấy đang nấu cơm.
Đây là Okamoto, con trai bà Okamoto, mấy tháng trời không được ăn cơm nóng.
Tôi nhìn chỗ cơm thấy khá là ngon.
Nên tôi gọi người phiên dịch.
Tôi bảo, "Này, nói với bà già ấy, rằng tôi sẽ cho bà ta gói thuốc lá,
khẩu phần ăn bánh gà tây của tôi và một lon đào
để đổi lấy một ít cơm với cá và rau".
Nó ngon lắm. Tôi xin thêm chén thứ hai.
Cậu lính truyền tin bảo, "Chết tiệt, họ chưa đủ nghèo hay sao
mà còn ăn đồ ăn của họ?" Tôi nói, "Kệ, họ có đủ cơm
để cho cả chục người ăn".
Rồi mọi người nhận ra họ nấu đủ để cho cả chục người ăn thật.
Nên tôi nhờ người phiên dịch hỏi người phụ nữ, "Chỗ cơm này cho ai?"
"Tôi không biết".
Nên bọn tôi bắt đầu nhìn quanh lần nữa rồi tìm thấy một cái miệng hầm.
Tôi được đưa cho quả lựu đạn.
Sau khi tan khói, tôi nghĩ bọn tôi đã kéo
khoảng bảy hay tám cái xác ra sân làng.
Bọn tôi muốn xem ai sẽ khóc cho những người này
rồi sẽ tra hỏi họ.
Những phụ nữ sống trong ngôi nhà mà tôi đã ăn cơm của họ
đều ngồi xổm xuống rồi than vãn.
Không thể nhận diện mấy cái xác cháy đen đó.
Tôi nghĩ đó là lần đầu tiên tôi nhận ra tự tay mình đã giết người.
Cấp trên bảo tôi, "Làm tốt lắm".
Nhưng...nó chẳng có gì vinh quang hay là thành quả gì to tát cả.
Mùa hè năm đó, Okamoto bị thương hai lần
và thực hiện 22 cuộc tấn công bằng trực thăng,
bốn lần trong số đó là làm chỉ huy của Đại đội Bravo.
Vào sáng ngày 23 tháng 8, ông thực hiện cuộc tấn công thứ 23.
Mười chín máy bay trực thăng chở trung đội một và hai đến một bãi đáp gần Campuchia.
Nhiệm vụ của họ là phòng ngự, bám trụ,
và bằng cách nào đó ngăn chặn tiểu đoàn quân đội miền Bắc
đang cố trốn ra khỏi biên giới.
Đơn vị của Okamoto được tăng cường
bởi một trung đội bộ binh cơ giới, ba xe bọc thép và một chiếc xe tăng,
nhưng họ vẫn thua xa quân địch về quân số.
Ông và chưa tới 150 lính cấp dưới
dành cả ngày còn lại hôm đó và nguyên ngày hôm sau
chuẩn bị hết sức có thể cho cuộc tấn công,
gài mìn Claymore và căng ba lớp hàng rào kẽm gai.
Vào khoảng 10:00 tối ngày 24 tháng 8,
hàng loạt đạn súng cối bay xối xả tới chỗ bọn tôi.
Loạt đầu tiên trong khoảng mười giây,
cả ba chiếc xe bọc thép và xe tăng
đều bị súng chống tăng bắn hỏng.
Mìn pháo sáng bùng lên xung quanh.
Nhóm quân địch xông vào họ qua đám cỏ voi.
Đạn cối của Việt Cộng làm thủng hai lỗ hổng trên hàng rào kẽm gai.
Nếu Okamoto và đồng đội của ông không bịt được chúng,
họ chắc chắn sẽ bị địch tràn qua.
Ông và bốn người lính gần đó giương khẩu M-16 lên đầu
và bắn một cách mù quáng.
Quân địch cứ xông đến.
Quanh tôi có bốn người.
Qua luồng pháo sáng, tôi bảo,
"Các cậu lấy súng máy leo lên xe bọc thép bắn đi".
Họ bảo là, "Mẹ bà, tôi không lên đó đâu".
Nên tôi chạy đến chỗ xe bọc thép đầu tiên
và kéo xạ thủ đã chết ra khỏi tháp pháo.
Tôi nhảy vào, cầm súng máy
và bắn cho đến khi hết đạn.
Okamoto chuyển đến chiếc xe bọc thép thứ hai
rồi đến chiếc thứ ba, bắn tới khi hết đạn.
Họ vẫn xông đến chỗ chúng tôi.
Nên tôi bò ra ngoài đến khi tôi cách họ khoảng mười mét
và giết họ bằng lựu đạn.
Hai quả lựu đạn của địch rơi gần chỗ ông và ông ném ngược cả hai trở lại.
Nhưng trái thứ ba rơi xuống vượt tầm với của ông.
Những mảnh đạn cắm rải rác lên chân và lưng ông.
Tôi đã tin chắc mình sẽ chết. "Okamoto, mày không thoát được đâu.
Mẹ sẽ đau lòng nhưng mày sẽ không sống được đâu" .
No comments yet. Be the first to leave one.