Soviet Storm: WW2 in the East

Soviet Storm: WW2 in the East

دانلود زیرنویس Vietnamese

هماهنگ با نسخه‌های زیر

Soviet Storm- World War II — In The East ep 13 War in the Sea StarMedia
ناشر pmqcondeo
Khớp với Youtube StarMedia

برچسب‌ها

other
تاریخ انتشار: 2018-12-23
تعداد دانلود: 54
مخصوص ناشنوایان: No

پیش‌نمایش زیرنویس Vietnamese

نخستین 200 خط.

BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.

Từ Hắc Hải cho đến Bắc Hải, Hải quân Xô-viết lao vào một cuộc chiến sinh tử

nhưng đã hầu như bị quên lãng, dẫn tới một trong những thảm họa hàng hải lớn nhất trong lịch sử.

Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.

Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga và về chặng đường dài

của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.

CUỘC CHIẾN TRÊN BIỂN.

Trên boong một tàu chiến Đức,

thủy thủ đang đẩy chiếc thùng đựng một quả thủy lôi to về phía mạn tàu.

“Đã sẵn sàng thả thủy lôi.”

“Thủy lôi đã thả!”

Lúc đó là gần nửa đêm ngày 21/6/1941,

trước ngày Đức xâm lược Liên bang Xô-viết,

Tàu chiến Đức đang bận rộn thả thủy lôi trong Vịnh Phần Lan.

Chỉ còn vài giờ trước khi cuộc không kích đầu tiên của Đức giáng xuống Liên bang Xô-viết,

và Đại sứ Đức ở Maskva chuyển văn bản Tuyên chiến.

Nhưng tại Biển Baltic này, chiến tranh đã bắt đầu.

Không như Lục quân và Không quân, Hải quân Xô-viết cảnh giác hơn.

Từ trước đó 3 ngày, họ đã ở mức báo động cao.

Tàu chiến và máy bay của họ đều đặn tuần tra

để cảnh báo sớm bất cứ cuộc tấn công nào sắp xảy ra.

Ngay trước nửa đêm ngày 21/6,

Hải quân chuyển sang báo động đỏ bởi Tư lệnh, Dân ủy Hải quân Nikolai Kuznetsov.

Nhưng trong khi các sân bay Xô-viết bị giã nát vào ngày đầu tiên của cuộc chiến,

Hải quân hiếm khi bị đánh phá.

Căn cứ hải quân chính trên Biển Baltic ở Tallinn thậm chí không bị tấn công.

Nhưng sự huy động của Hải quân vẫn được rất nhiều người thán phục.

“Các thủy thủ chú ý! Để thành công hoàn thành nhiệm vụ này…”

“Đồng chí thủy thủ trưởng, đó không phải máy bay ta!”

Thuyền trưởng tàu ngầm Piotr Grishenko đang ngủ khi quân Đức tấn công.

“ - Grishin nghe đây! - Nghe rõ.”

Nhưng không chỉ căn cứ tàu ngầm bị tấn công

mà cả sân bay cũng vậy.

Nếu các máy bay ném bom nhắm vào hạm đội Xô-viết,

họ vẫn có nhiều cơ hội để thoát đi và tránh vào cảng.

Nhưng quân Đức lên kế hoạch thay vì thế là nhốt chặt tàu Xô-viết trong cảng bằng thủy lôi.

Hải quân Xô-viết được chia thành 4 vùng hoạt động xa nhau:

Biển Baltic, Biển Đen, Biển Bắc và Viễn Đông.

Khoảng cách giữa chúng quá lớn,

chặng đường biển từ Vladivostok tới Leningrad dài gần 14.000 km.

Năm 1941, Hải quân Xô-viết chỉ sở hữu vài tàu chiến lớn kiểu hiện đại.

Thay vào đó, họ tập trung phát triển tàu ngầm và tàu chiến cỡ nhỏ.

Một chiến lược được hậu thuẫn bởi nhiều lý thuyết gia hải quân Xô-viết trẻ tuổi.

Lập luận của họ như sau: 1 tàu ngầm có thể vô hiệu hóa 1 thiết giáp hạm.

Nhiều tàu ngầm có thể ngăn cản hoạt động của nhiều hạm đội cùng lúc.

Học thuyết được chính thức chấp thuận. (Các học thuyết quân sự của Nga-Liên Xô luôn thiên về phòng thủ-danngoc)

Dân ủy Quốc phòng Kliment Voroshilov tuyên bố:

“Chúng ta chỉ muốn bảo vệ bờ biển và biên giới của mình ... "

"Lực lượng không quân hải quân và tàu ngầm sáng chói của ta sẽ bẻ gãy mọi cuộc tấn công của kẻ thù.”

Liên Xô bắt đầu một chương trình khổng lồ xây dựng hạm đội tàu ngầm.

Hải quân tiến hành thao luyện, trong đó tàu ngầm thực tập phối hợp với các pháo đội duyên hải,

máy bay và tàu chiến nhẹ để đánh lui một cuộc tấn công của hải quân địch.

Translator: SagePhamKT

Ngay trước chiến tranh, Hải quân Xô-viết có 3 thiết giáp hạm,

7 tuần dương hạm nhẹ, 54 khu trục hạm,

215 tàu ngầm, 22 tàu hộ tống,

290 tàu phóng lôi và 62 tàu săn biển.

Cả 3 thiết giáp hạm đều đóng từ thời Sa hoàng.

Hạm đội Baltic là mạnh nhất với 2 thiết giáp hạm,

2 tuần dương hạm nhẹ kiểu hiện đại và 21 khu trục hạm.

Hạm đội Biển Bắc là yếu nhất với chỉ 8 khu trục hạm.

Trái lại, Hải quân Đức có 3 thiết giáp hạm, 8 tuần dương hạm,

34 khu trục hạm và 155 tàu ngầm.

(Chưa tính hạm đội Phần Lan-danngoc).

6:30 sáng ngày 22/6/1941,

sở chỉ huy Hạm đội Baltic nhận lệnh từ Dân ủy Hải quân Kuznetsov.

“Gửi Hạm đội: bắt đầu rải thủy lôi theo kế hoạch phòng thủ. Đô đốc Kuznetsov.”

Nhưng cách giải quyết như vậy không mấy hiệu quả,

như Đô đốc Panteleyev đã nêu:

“Hải quân phát xít không có dự định tiến vào Vịnh Phần Lan ..."

" ... Trái lại, chúng dự tính nhốt chặt chúng ta trong đó.”

Một tuần dương hạm, nương theo làn khói che phủ,

từ từ tiến vào cảng Tallinn.

Cứ vài phút, pháo lớn của nó lại gầm lên.

Tuần dương hạm Kirov bắn đám lính Đức đang tiến vào thủ đô Estonia.

Đối phương đáp trả bằng trọng pháo.

Đó là lý do chiếc Kirov phải liên tục di chuyển, nấp sau làn khói.

Đến cuối tháng 8/1941,

Hồng quân đã buộc phải bỏ lại phần lớn vùng Baltic đã chiếm được.

Chỉ còn lại Tallinn, pháo đài Xô-viết cuối cùng ở Estonia.

Quân Đức và đồng minh Phần Lan kiên quyết ngăn chặn cuộc sơ tán Tallinn theo đường biển.

Chỉ có hai tuyến hàng hải tới thành phố:

một men theo bờ biển và một xuyên giữa Vịnh Phần Lan.

Người Đức và Phần Lan rải đầy tuyến đường giữa này 2.500 quả thủy lôi.

Thủy lôi là loại vũ khí hiệu quả cao trên biển,

gây ra 1/5 tổn thất tàu biển trong toàn cuộc chiến.

Loại thủy lôi EM (Einheitamine) của Đức tức Thủy lôi thả neo,

bao gồm một quả cầu rỗng có 7 mấu vây.

Bên trong có một hộp không thấm nước chứa 300 kg chất nổ.

Phần lớn khối cầu là rỗng nên thủy lôi có thể nổi.

Quả thủy lôi được lăn trên boong bằng xe đẩy gắn với nó bằng dây cáp.

Xe đẩy này công dụng như chiếc neo để giữ thủy lôi yên vị.

Chiều dài cáp có thể điều chỉnh để định chiều sâu thả mìn.

Các mấu thép sẽ kích nổ thủy lôi.

Khi có tàu chạm vào, nó làm vỡ bình a-xít

làm kích hoạt dòng điện đến ngòi nổ,

làm nổ thủy lôi.

Vừa đánh vừa tiến tới bờ biển, quân Đức khai hỏa vào tuyến hàng hải.

“Khói ngụy trang. Chẳng thấy gì. Ta đang bắn cái gì vậy?”

Nhưng cả trọng pháo lẫn thủy lôi

đều không ngăn nổi các tàu vận tải Xô-viết đến được Tallinn.

Các tàu quét lôi Xô-viết đi đầu,

bởi chúng có đáy nông nên có thể an toàn bơi qua bãi thủy lôi,

kéo theo một cái lưới cắt đứt hết dây cáp.

Khi thủy lôi nổi lên mặt nước, họ dùng súng bắn nổ chúng,

tạo lối đi an toàn qua bãi thủy lôi.

Trong tháng 8, một dòng không ngớt thương binh và người tị nạn Xô-viết

được sơ tán khỏi Tallinn theo đường biển.

Nhưng các tàu quét lôi Xô-viết bị thiệt hại nặng nề.

Một số bị trúng thủy lôi thả sát mặt nước,

số khác bị chìm do thủy lôi từ TMA,

kích hoạt do từ trường vỏ tàu.

Ngày 26/8, Stalin đánh điện cho Voroshilov,

cho phép rút khỏi Tallinn và sơ tán quân đồn trú theo đường biển.

Chiến dịch này huy động một đoàn hơn 200 tàu Xô-viết.

Họ phải vượt qua bức màn sắt của máy bay và tàu phóng lôi Đức-Phần Lan,

cùng những bãi thủy lôi không thể tháo gỡ hết do thời tiết xấu.

Thời điểm khởi hành của đoàn tàu được định là ngày 28/8,

chở theo 28.000 binh lính và dân chạy nạn.

Đoàn tàu đi theo tuyến đường giữa,

nghĩa là các pháo đội duyên hải Đức-Phần Lan phải bắn hết tầm.

Máy bay ném bom bổ nhào của Luftwaffe phải vào cuộc,

trong khi các khu trục hạm Xô-viết thả khói ngụy trang để bảo vệ đoàn tàu.

Có hàng chục thủy lôi chờ sẵn trên đường,

và chúng sớm gây ra thiệt hại.

Các tuần dương hạm và khu trục hạm xông lên trước,

để góp phần phòng thủ vững chắc căn cứ hải quân ở Kronstadt.

Các tàu vận tải chậm hơn bị tụt lại sau.

Máy bay Đức lao xuống chúng như bầy kền kền.

Trong số 75 tàu vận tải rời khỏi Tallinn,

12 chiếc bị chìm bởi thủy lôi, 19 chiếc chìm do máy bay.

Nếu các tàu chiến chạy chậm lại để bảo vệ đoàn vận tải, thiệt hại có thể ít đi.

Nhưng tư lệnh hạm đội buộc phải đưa các tàu chiến trở về an toàn.

Không được phép hy sinh Hạm đội Baltic.

Tuần dương hạm Kirov về tới Kronstadt không bị hư hại gì nghiêm trọng,

cũng như vậy là 11 trong số 13 tàu ngầm. Nhưng chỉ 5 trong số 10 khu trục hạm là về đến nơi.

Trong số 28.000 người sơ tán, 2/3 đến nơi an toàn.

Nhưng có hơn 15.000 người thiệt mạng trên chặng đường 320 km từ Tallinn.

Vài ngày sau quân Đức bắt đầu tấn công Leningrad.

Các chiến hạm, được bảo toàn nhờ quyết định tàn nhẫn bỏ rơi đoàn vận tải Tallinn,

sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phòng thủ thành phố.

Hy vọng của Hitler muốn chóng vánh chiến thắng Liên Xô đã tan biến.

Khi chiến tranh bước sang năm thứ 2, người Đức ngày càng lo hơn

về các tuyến vận tải đường biển của chính họ:

tuyến vận tải thiết yếu chở quặng sắt Thụy Điển ngang qua Biển Baltic và chạy dọc bờ biển Na Uy,

chở quặng crôm băng ngang Biển Đen từ Thổ Nhĩ Kỳ trung lập.

Người Đức quay sang dùng những thủy lôi phức tạp của mình để bảo vệ các tuyến hàng hải này.

Năm 1942, họ rải những bãi thủy lôi dày đặc dọc bờ biển phía Bắc Na Uy,

được theo dõi bởi máy bay và các pháo đội duyên hải.

Nó lập tức gây hậu quả chết người lên các tàu ngầm tuần tiễu Xô-viết.

Tháng 4/1942, tàu ngầm Shch-421 trúng một thủy lôi Đức và chìm.

Cũng tháng đó, Shch-401 mất tích khi đang tuần tra.

Sau đó 3 tàu ngầm khác chìm liên tiếp trong khoảng thời gian ngắn.

Số tàu địch bị đánh chìm do tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc Xô-viết mau chóng giảm

từ 21 tàu trong nửa đầu 1942 xuống chỉ còn 4 vào nửa sau 1942.

Đổi lại là thiệt hại 9 tàu ngầm.

Thủy thủ Hạm đội Baltic phải chịu đựng mọi nỗi khắc nghiệt tại căn cứ của mình -

- thành phố Leningrad bị phong tỏa.

Người Nga gầy đói đến nỗi nhiều người bị bệnh loạn dưỡng.

Trong khi đó, các nhà máy Đức đang biến quặng sắt Thụy Điển

thành xe tăng, trọng pháo và đạn dược.

Chỉ tàu ngầm của Hạm đội Baltic mới chặn được tuyến tiếp vận này.

Ngày 2/7/1942,

S-7, dưới sự chỉ huy của Lisin, đã lọt qua được bãi thủy lôi trong Vịnh Phần Lan.

“Có điện tín mới từ Lisin.”

“Anh ấy chắc đang ở gần chỗ này.”

Thụy Điển là nước trung lập,

nhưng khi nổi lên, Lisin bị 1 máy bay Thụy Điển tấn công

và may mắn trốn thoát.

Đêm đó, Lisin đánh chìm tàu vận tải Thụy Điển Margareta chở đầy than đá.

Hai ngày sau, nó đánh chìm chiếc Lulea,

1 tàu Thụy Điển khác, đang chở quặng sắt tới Đức.

Thụy Điển tuyên bố cả 2 tàu đều bị đánh chìm trong

lãnh hải của mình, là xâm phạm chủ quyền của họ.

Phía Xô-viết phủ nhận điều này, nhưng không chứng minh được là

đã ra lệnh cho S-7 tránh xa bờ biển Thụy Điển.

Ngày 30/7, Lisin thấy thêm nhiều tàu khác.

Để tấn công chúng, ông mạo hiểm

nổi lên mặt biển chạy với tốc độ tối đa vào giữa ban ngày.

Ông tấn công ở độ sâu chỉ có 6 m.

Nếu bị phát hiện, ông có rất ít cơ hội chạy thoát.

Nhưng sự táo bạo của Lisin đã được đền đáp. Tàu vận tải Kathe của Đức bị đánh chìm.

S-7 hết sạch ngư lôi và quay đầu trở về

thì phát hiện một tàu hơi nước của Phần Lan.

“Có tiếng chân vịt ở mạn phải!” “Chuẩn bị nổi lên.”

Khẩu pháo chính trên boong đã bị kẹt, nên thủy thủ khai hỏa khẩu pháo phòng không.

Nó mất gần 400 phát mới hạ được tàu địch.

Giữa đống mảnh tàu vỡ, Lisin vớt lên

viên thuyền trưởng và thợ máy trưởng rồi chở họ về Leningrad.

Đó là một ví dụ rất điển hình về việc tàu ngầm cũng bắt giữ tù binh.

Bốn thành viên của S-7 được thưởng huân chương.

Lisin được trao danh hiệu vinh dự nhất thời ấy - Anh hùng Liên Xô.

Tháng 9/1942, chiếc S-12 dưới quyền của Turyaev lên đường tuần tiễu.

Nhưng đi được 1 ngày thì nó bị thương do máy bay Phần Lan tấn công.

Thùng dầu bị rò thành một vệt dầu loang trên mặt biển.

Thế rồi, kỹ thuật viên dò âm nghe được âm thanh của chân vịt tàu.

“- Có tiếng chân vịt phía trước!” “- Lặn xuống độ sâu 30 m.”

Bộ ắc quy của tàu ngầm gần như không hoạt động khi tàu bị thả bom chìm.

“Bom chìm!”

Tình cờ, Turyaev phát hiện ra một rãnh sâu 60 m dưới đáy biển.

Soviet Storm: WW2 in the East subtitles in other languages

نظرات

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left