Первые 186 строк.
Bên rìa các lục địa trên hành tinh chúng ta là các vùng biển nông.
Chúng làm ngập các thềm lục địa với độ sâu hiếm khi hơn 200m.
Thềm lục địa có khi trải dài ra hàng trăm dặm
cho đến khi đáy của nó mất hút dưới vùng nước biển sâu thẳm tối tăm.
Toàn bộ vùng biển nông chỉ chiếm 8% diện tích đại dương trên trái đất
nhưng ở đây lại là nơi cư trú của đại đa số động vật biển.
VÙNG BIỂN NÔNG
Con cá voi lưng gù đực cất tiếng thu hút con bạn cái của nó.
Bầy cá voi cũng vừa mới trở lại nơi sinh nở của chúng
nằm tại vùng biển nông nhiệt đới.
Chú cá voi con chỉ mới được vài tuần tuổi.
Dù có chiều dài đến 3 mét và nặng gần 1 tấn
nhưng chú ta vẫn còn yếu đuối khó tránh khỏi nguy hiểm.
Mẹ của chú vì thế luôn phải canh chừng đến chú.
Mỗi khi chú bắt đầu thấy mệt, mẹ lại giúp chú nổi lên mặt nước
để chú hít thở được dễ dàng hơn.
Các vùng biển nông gần đường xích đạo là nơi nuôi dưỡng rất tốt cho cá con.
Nước ở đây luôn ấm, phẳng lặng và rất ít xuất hiện các loài ăn thịt.
Chú cá con ham vui lúc này bú 500 lít sữa mỗi ngày
khiến cho mẹ chú luôn mau đói.
Ở đây không còn gì cho mẹ chú ta ăn nữa.
Cũng như các vùng biển nông nhiệt đới khác,
vùng nước trong suốt này hầu như không có sự sống.
Tuy những nơi này thu nhận ánh sáng mặt trời quanh năm
nhưng lại thiếu dưỡng chất cần thiết cho sự trưởng thành của động vật nhỏ.
Cá voi mẹ sẽ phải ở lại đây trong vòng 5 tháng tới
cho đến khi con nó đủ mạnh bơi đến được nơi có nguồn thức ăn
nằm gần các cực của trái đất.
Những dải san hồ ngầm được xem là những ốc đảo trong sa mạc nước.
Hết hết các vùng biển nông nhiệt đới thì đều cằn cỗi
nhưng các vùng san hô này lại là nơi trú ẩn
của 1/4 sinh vật biển trên trái đất.
San hô được hình thành từ polip
loài sinh vật nhỏ ký sinh giống loại cỏ chân ngỗng sống ở biển.
Vậy mà chúng đã tạo nên vỉa san hô lớn đến nỗi
có thể nhìn thấy được từ mặt trăng.
Thực ra nó bao gồm 2 nghìn tảng san hô riêng biệt
cùng nhau tạo nên một vỉa san hô chạy dài hơn một nghìn dặm
dọc theo bờ biển đông bắc nước Úc.
Mặc dù có kích thước lớn đến vậy
nhưng vỉa san hô ở đây không tồn tại sự sống của sinh vật biển.
Hãy du hành về hướng bắc, đến Indonesia để tìm hiểu thêm.
Các vỉa san hô tại Indonesia là nơi cư trú của hầu hết loại cá
tương tự và nhiều như ở vịnh Caribê.
Số lượng chủng loài san hô ở đây nhiều gấp 10 lần.
San hô lớn nhanh tại đây nhờ có sự hiện diện của thực vật siêu vi
là loại tảo trưởng thành bên trong mô của polip.
Polip ăn bằng cách hút con mồi đi ngang vào các vòi xúc tu của chúng.
Về đêm, trong lúc loài tảo ngưng hoạt động
thì polip vẫn giương vòi xúc tu lên, thậm chí còn nhiều hơn ban ngày.
Nhờ vậy san hô có thể ăn suốt ngày suốt đêm.
Sự kết hợp đúng mực này
đã mang lại lợi ích cho cả polip và tảo.
Bằng sự liên kết này, chúng biến các vùng biển cằn cỗi
trở thành những khu vườn phong phú sống động.
Các vỉa san hô tại Indonesia sở dĩ có được nhiều sinh vật biển
là vì chúng nằm tại một giao lộ khổng lồ.
Đây chính là điểm gặp gỡ của 2 đại dương khác nhau.
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Mọi thứ ở đây cần nhìn sát hơn mới thấy được rõ ràng.
Trên bề mặt tảng san hô này có 2 sinh vật rất giống polip.
Chúng là loài cá ngựa lùn, là giống nhỏ nhất thế giới
cao chưa đến 2 cm.
Đây là các con đực. Chúng đang giải quyết việc tranh chấp lãnh thổ
bằng cách cụng đầu vào nhau.
Tia lửa điện ư?
Không phải. Đó là sự biểu lộ của một con sò gai.
Phải chăng tiếng đập khác thường từ cái vỏ nhiều thịt của con sò này
là một hành động cảnh báo để xua đuổi bọn cá rỉa mồi.
Nhưng đó chỉ là phỏng đoán mà thôi.
Ở đây còn có cả rắn nữa, và có rất nhiều.
Đây là loại rắn lụa biển. Chúng đẻ trứng trên bờ
nhưng lại săn mồi dưới nước.
Vì chúng quá chậm không thể đuổi bắt cá trực diện
nên chúng phải tìm con mồi ẩn náu trong các ngõ ngách san hô.
Cú đớp của chúng rất độc, làm tê liệt con mồi.
Nhưng trên vỉa đá ngầm này không chỉ có mỗi bọn rắn săn mồi.
Đàn cá phèn vàng và cá trivali cũng đang tìm con mồi tương tự.
Chúng khiến cho bọn rắn chú ý. Hễ có nhóm săn mồi xuất hiện ở đây
là có nhóm khác gia nhập vào cuộc đi săn đó.
Giờ đã có ít nhất 30 con rắn tham gia vào bầy săn mồi rồi.
Đàn cá to lớn làm con mồi hoảng sợ chạy vào các khe đá ngầm
và ở đó bọn rắn sẽ dễ dàng bắt được chúng.
Và nếu con mồi nào thoát được khỏi bầy rắn
thì lại lọt ngay vào miệng của lũ cá trivali đang chờ đợi.
Không còn nơi nào để trốn nữa.
Trong khi đoàn săn mồi lùng sục vỉa đá ngầm,
vẫn còn có thêm nhiều con rắn nữa tham gia cuộc săn mồi.
Sự kiện phối hợp này giữa loài rắn và loài cá trông thật hấp dẫn
nhưng cũng mới được chứng kiến gần đây bởi sự kiện này chỉ xảy ra
tại những vỉa đá ngầm nằm biệt lập xa xôi thuộc Indonesia.
Sự liên kết săn mồi như thế có thể đã từng rất phổ biến
nhưng ngày nay hiếm đi vì có chưa tới 6% vỉa đá ngầm thuộc Indonesia
là còn giữ được trạng thái nguyên sơ.
Nằm phía ngoài vỉa san hô là một vùng cát chảy rộng lớn.
Ngoài đó không hề có nơi trú ẩn, do đó sinh tồn là không dễ dàng.
Ngụy trang che đậy là điều kiện tiên quyết.
Nếu vật này không di chuyển như thế
ta có thể tưởng nó là cái vỏ hay hòn đá.
Chính xác nó là một con bạch tuộc.
Đây là con cá chào mào. Những cái vảy to lớn của nó
vừa giúp nó che dấu đi hình dạng của mình
vừa có thể giúp phủi cát mỗi khi nó đi tìm thức ăn.
Con cá hàm ẩn náu dưới lòng đất.
Còn con bạch tuộc wonderpus này có cú đớp mạnh đến nỗi
được xem đó như là dấu hiệu cảnh báo cho kẻ khác tránh đường đi của nó.
Các loài thực vật ở đây cố bén rễ xuống đất
nhưng rồi cũng bị loài rùa xanh lục gặm mất.
Cỏ biển là loài thực vật nở hoa duy nhất có thể sinh tồn dưới biển.
Mặc dù chỉ mọc lên trên một vài dải dây giống như chiếc lá
nhưng chúng lại có sự liên kết rất lớn gồm thân và rễ có nhiều cùi
nằm vùi bên dưới cát.
Ở mức phát triển sum sê nhất chúng có thể làm biến đổi đáy biển
thành một đồng cỏ dưới nước.
Dải cỏ lớn nhất được phát hiện ở vùng nước nông thuộc Vịnh Cá mập
phía Tây nước Úc.
Vùng đồng cỏ dưới nước rộng lớn này trải rộng đến 15 nghìn dặm vuông.
Và, không khác với các vùng thảo nguyên trên đất liền
chúng cũng là thức ăn cho một loài ăn cỏ.
Đó là cá nược.
Cá nược là động vật ăn cỏ to lớn nhất dưới biển.
Loài cá này có thể dài đến 3 mét và nặng nửa tấn.
Chúng không ăn gì khác ngoài cỏ biển, chủ yếu là rễ cây nhiều cùi
mà chúng moi lên từ dưới cát bằng cặp môi cơ động.
Một bầy cá này có thể dọn sạch một vạt cỏ biển
bằng kích thước của một sân bóng đá chỉ trong một ngày.
Thức ăn tại các vùng biển nông nhiệt đới được phân bổ không đều
và tìm kiếm thức ăn ở đây không dễ dàng gì.
Vậy mà loài cá heo nhờ tính tò mò, có nghị lực và rất thông minh
nên chúng đã có thể phát hiện cả một đàn cá mồi.
Bên nhau, chúng cưỡi con sóng, nhờ sóng đưa chúng vào vùng nước nông
và tại đó chúng dễ bề bắt được con mồi hơn.
Tại vùng biển phía Tây nước Úc
những con cá heo này đã tham dự cuộc thử thách còn khắc nghiệt hơn.
Lúc này đàn cá mồi đã tìm chỗ nương náu gần với bờ
nơi mà con nước chỉ ngập khoảng vài cm.
Vỗ đuôi là phương pháp cá heo thường tận dụng để đánh bất tỉnh con mồi
nhưng cách này hình như không hiệu quả ở đây.
Đàn cá mồi gần sát đó một cách trêu ngươi
nhưng vẫn không thể vươn tới bắt được chúng
buộc lòng mấy chú cá heo thử một cách bắt mồi khác.
Bằng cách đẩy mạnh đuôi, chúng gia tăng được tốc độ bơi
và sau đó là lao trên mặt nước như chiếc thủy phi cơ.
Nhờ lực đẩy giúp cá heo lao thẳng vào chỗ nước nông nhất
và chạm vào được con mồi.
Giờ thì chú cá heo này đang gặp nguy cơ mắc cạn
nhưng con mồi tưởng thưởng cho sự dũng cảm đó.
Đàn cá heo trẻ hơn thì bơi kế bên quan sát.
Nhưng đến lúc này thì mới có 8 chú cá heo
thuần thục được kỹ thuật đầy táo bạo này.
Mặc dù đa phần đời sống tại vùng biển nhiệt đới
đều tề tựu quanh các vỉa đá san hô và những đồng cỏ dưới biển
nhưng vẫn có vài trường hợp ngoại lệ đầy kinh ngạc.
Sa mạc Bahrain có vẻ là nơi khó có thể nhìn thấy được
một đàn chim biển đông đúc nhốn nháo.
Vậy mà hằng năm lại có đến 100 nghìn con chim cốc
tụ tập sinh nở ở đây.
Trời thật oi ả nóng bức
và chỉ có thở mạnh mới giúp đàn chim
chống đỡ được nhiệt độ nóng chết người này.
Tuy nơi này khó có thể là nơi phù hợp để nuôi dưỡng đàn con
nhưng ít ra thì vẫn có thể tránh được thú ăn thịt trên cạn.
Khả năng gây rắc rối còn lại có thể đến từ chim bạn láng giềng
do đó tổ của chúng sẽ được tạo cách nhau một tầm mổ của mỏ chim.
Nhưng còn thức ăn thì sao?
Nơi này chỉ toàn cát với cát còn vùng biển ấm áp lại ở rất xa.
Dù sao nơi này cũng không thể mang lại đủ thức ăn
để cấp dưỡng cho đàn chim có quy mô lớn như thế này.
Câu trả lời là "bay đi cùng gió".
Gió từ ngoài khơi biển Shamal dồn cát
và thổi nó vào vùng vịnh Ả Rập.
Những hạt cát kèm theo các dưỡng chất đóng vai trò như phân bón
biến vùng biển nông trở thành vùng đất đai phì nhiêu.
Thật nghịch lý, chính vùng cát nóng bỏng Ả Rập
lại ngăn vùng vịnh không bị biến thành một sa mạc khác ở dưới biển.
Chú cá voi con giờ đã được 5 tháng tuổi.
Kích thước chú ta gần như gấp đôi trước đây
và những ngày của chú tại nơi nuôi dưỡng nhiệt đới sắp kết thúc.
Nơi này ấm áp và an toàn phù hợp cho việc nuôi dưỡng
nhưng không còn có gì cho mẹ chú ăn nữa.
Cá voi mẹ đã ăn hết phần thức ăn dự trữ trong 8 tháng vừa qua
và sắp phải chết vì đói.
Cá mẹ cần phải rời khỏi nơi này nhân lúc vẫn còn đủ sinh lực
để dẫn đường và bảo vệ cho con nó
trong cuộc hành trình dài ngày phía trước.
Bơi qua các vùng nhiệt đới, đàn cá voi đang dần cách xa đường Xích đạo
No comments yet. Be the first to leave one.