Snowpiercer

Snowpiercer

ดาวน์โหลดคำบรรยายVietnamese

ซีซั่น 2

ข้อมูลรุ่น

Snowpiercer S02 WEBRip x264-ION10 Vietnamese
ความคิดเห็นโดย Barel
Complete S02

แท็ก

webrip
web
x264
BRip
เผยแพร่เมื่อ: 2022-01-25
ดาวน์โหลด: 20
ผู้พิการทางการได้ยิน: No

ตัวอย่างคำบรรยาย Vietnamese

200 บรรทัดแรก

‎LOẠT PHIM CỦA NETFLIX

‎Vào đêm trước khi sang vòng thứ 19,

‎ông Wilford vĩ đại đã trở về từ băng giá.

‎Đó là thời kỳ của hai đầu máy,

‎Đuôi tàu không còn là Đuôi tàu ‎mà là vùng biên giới.

‎Thời kỳ của mưu chước khôn khéo ‎và tài điều khiển tàu siêu việt,

‎của những vòng quay bị gián đoạn ‎và đường tàu mới trên địa hình mới.

‎Javi, nghe rõ không?

‎Javi? Khỉ thật.

‎Nếu nghe thì ‎chuyển sang radio dự phòng đi.

‎Tôi đến chỗ đầu nối đây.

‎Hy vọng là mầm sống duy nhất,

‎trong cuộc chiến ‎giữa ‎Big Alice, ‎ dài 40 toa,

‎với ‎Snowpiercer, ‎con tàu hùng mạnh dài 994 toa.

‎Snowpiercer ‎ không thể chạy nữa.

‎Hãy làm theo yêu cầu của ông Wilford,

‎không bọn tôi sẽ bỏ tàu các người lại đây.

‎Bảo ông Wilford là ‎cư dân của ‎Snowpiercer ‎không đầu hàng.

‎Anh là ai?

‎Tôi là chủ cái cửa sau cô vừa mở tung.

‎Chắc chắn chúng ta có thể cùng tồn tại.

‎Anh Layton không có ý gì.

‎Ta có thể bàn bạc trong khi tàu chạy.

‎Nghe có lý đấy, Alex. ‎Bảo đảm mẹ cô sẽ đồng ý.

‎- Chúng tôi phải làm gì? ‎- Cung cấp toàn bộ danh sách này.

‎Bia?

‎- "Cà rốt, dưa chuột". ‎- Phải kiếm đủ từng này?

‎Trong 12 phút thôi, ‎lạnh quá tàu sẽ hết chạy được.

‎Này!

‎- Toàn đồ lặt vặt. ‎- Hết cách rồi.

‎- Đường liên lạc hỏng, cả tàu phụ nữa. ‎- Phải chạy nhanh đi kiếm đủ.

‎Lò ủ bia, cần sáu chai bia Railman's.

‎Có ngay! Tránh ra!

‎Thư viện, nhờ ai lấy một quyển ‎Rebecca ‎của Daphne du Maurier.

‎Ruth, đi với tôi. Roche, giữ chiến tuyến.

‎- Nông nghiệp! ‎- Có!

‎Till đi nhé. Một bó cà rốt, ‎một quả dưa chuột, sáu trứng, một gà mái.

‎- Gà mái? ‎- Ừ.

‎Javi, liên lạc được Mel không?

‎- Tàu dừng rồi. ‎- Tôi biết.

‎- Liên lạc được Mel không? ‎- Không.

‎Wilford kiểm soát ‎Snowpiercer ‎hoàn toàn.

‎Cô ấy sẽ biết phải dùng đài dự phòng.

‎Melanie, trả lời đi, Đầu máy đây.

‎Ngoài này trời đẹp lắm.

‎Ừ, âm 118 độ dịu mát.

‎Em trở về tàu đi.

‎Em đang ở chỗ đầu nối. Móc neo đã khóa.

‎- Mel, em không được ngắt nối. ‎- Em biết.

‎Ta đã cạn năng lượng khi cố bỏ chạy

‎nên giờ không tự chạy nổi.

‎Ben, anh đã nói đúng. Em đã mắc lừa.

‎Nếu phá móc nối,

‎ít nhất lấy lại được khoang lái ‎và hệ thống sự sống.

‎Em có bom dính chứ?

‎Ừ. Có một cái thôi.

‎Mel, nhiệt độ bộ đồ của em bao nhiêu?

‎- Em sắp bị hạ thân nhiệt đấy, Mel. ‎- Ừ.

‎Mel?

‎- Âm mười độ. ‎- Mọi người, sẵn sàng.

‎Giữ ấm bàn tay.

‎Có cái gì ấy ạ.

‎Đi tàu nhiều nên thế thôi. ‎Chưa dừng bao giờ mà.

‎Không. Cô nghe đi. Cháu nghe tiếng gì đó.

‎Mọi người, im lặng chút.

‎- Chết tiệt! Có người ở ngoài. ‎- Người của ta à?

‎Tôi linh cảm thế. ‎Dù họ đang làm gì, nhưng mong là được.

‎- Âm 12 độ. ‎- Bảo họ chạy nhanh lên!

‎Nhanh lên!

‎Nào. Đi!

‎Tránh đường! Nhanh!

‎Nào, đi thôi.

‎Tôi đang lạnh cóng!

‎Tránh đường.

‎- Tránh đường. Trời ơi. ‎- Cô gặp xui rồi.

‎Chứ cô muốn sao? ‎Đã chữa 170 người bị thương rồi.

‎Rất tiếc, ‎Snowpiercer ‎hết morphine từ hôm qua.

‎Cái gì? Lỡ ông Wilford bị đau thì sao?

‎Đồ sứ thượng hạng, đưa cho người kế tiếp.

‎Ngay bên ngoài.

‎Ông ta còn sống à?

‎Món cuối danh sách ‎là chai scotch ông Wilford thích.

‎Đây chỉ là khởi đầu, Andre.

‎Ông ta sẽ cướp mất mọi thứ ta giành được.

‎Để sau hãy nói. Tránh đường!

‎Melanie, tới ngưỡng rồi. ‎Em biết dấu hiệu mà.

‎Em sẽ lú lẫn, không cử động được.

‎Em không sao.

‎HỆ THỐNG ĐÃ PHỤC HỒI

‎Cô ấy làm được rồi. Đỡ cho ta nhiều lắm.

‎Mel, thành công rồi.

‎Lên tàu lại đi.

‎Em chưa xong đâu.

‎Mel?

‎- Ôi, trời ơi. ‎- Anh ta bị làm sao thế?

‎Melanie! Trả lời đi, đến lúc về tàu rồi.

‎Đã cố lấy gần đủ. Cho tàu chạy đi.

‎- Thiếu gì? ‎- Hết morphine, nhưng có aspirin.

‎Ta tự chế tạo, ông ấy biết mà.

‎Đang âm 20 độ đấy.

‎- Ta đi đi chứ? ‎- Âm 22.

‎Chắc chắn có thể bàn trong khi tàu chạy.

‎Ông Wilford cảm ơn sự hợp tác của các vị.

‎Alex, khoan đã. Alex!

‎Hay lắm!

‎Tôi cho đó là dấu hiệu tốt.

‎Ruth, ông ta đàn áp chúng ta.

‎Cô hiểu chứ?

‎Đa số chúng ta vừa chiến đấu vì dân chủ,

‎cô phải quyết định theo phe nào đi.

‎Melanie?

‎Melanie, em có trên tàu không?

‎Melanie, lên tàu đi.

‎Melanie, em lên tàu chưa? Trả lời đi.

‎Melanie, lên tàu đi!

‎Có cái gì ở đây.

‎Em nghĩ tuyết đang rơi.

‎Cô ấy mất ý thức rồi.

‎Melanie, nghe đây. ‎Lạnh thế này đâu còn tuyết rơi.

‎Lên tàu đi.

‎Melanie, cố tỉnh nhé.

‎Melanie.

‎Melanie!

‎- Ben, nếu anh nghe thấy... ‎- Anh đây.

‎...em lên tàu ‎Big Alice.

‎Cởi đồ ra để khử trùng.

‎Hài thật.

‎NGUY HIỂM

‎Kevin.

‎Không ngờ gặp anh ở đây.

‎Cô là người mới.

‎Cái tội bỏ mặc cho bọn tôi chết.

‎Tôi biết đường.

‎Dưới này còn bao nhiêu dân Đuôi tàu?

‎Chắc khoảng một nửa.

‎Một số có chỗ ở, ‎hầu hết đang cắm trại ở toa trên.

‎Một số không muốn đi.

‎Tôi định thế này. ‎Đuôi tàu không còn là Đuôi tàu nữa.

‎Mà là biên giới, phải kiểm soát biên giới.

‎Để một lực lượng mạnh ở đây để trấn giữ.

‎Bảy năm trời cố thoát khỏi đây,

‎giờ cuối cùng chỗ này cũng có giá trị.

‎Chấn chỉnh lại nào.

‎Phải dựng rào chắn thứ hai ở đây.

‎Ý hay đấy. Cứ tiếp tục củng cố khu này.

‎Nếu ông ta tính dừng tàu, ‎phải giả định ông ta sẽ tấn công.

‎Tôi nghĩ không nên giả định, anh Layton.

‎Nếu không sớm nói chuyện ‎với hành khách, ta sẽ khổ vì tin đồn đấy.

‎Liên lạc được rồi.

‎Cảm ơn, Ruth.

‎Tôi sẽ nói với cả tàu sau khi họp hội đồng

‎ở toa Đêm, ngay bây giờ.

‎Đến lúc tạm biệt cô rồi, Melanie.

‎Chào, Jupiter.

‎Chào mày.

‎Bình tĩnh, cô bé.

‎Nó còn nhớ cô.

‎Tôi có phần hy vọng nó sẽ xơi tái cô.

‎Chà. Tàu của ông có bộ điều chỉnh độ sáng.

‎Cô thích chứ?

‎Bạn già ‎Alice ‎đã làm tốt ‎hơn cả mong đợi của chúng ta.

‎Nhưng kế hoạch không phải thế, nhỉ?

‎Lại gần nữa đi.

‎Xem bao năm qua cô thay đổi thế nào.

‎Cô để ai lái Đầu máy của tôi trên đó,

‎trong khi cô ra ngoài đốn củi?

‎Ben à?

‎Tên, cấp bậc và số thứ tự.

‎- Chỉ có thế thôi. ‎- Xin lỗi. Tôi nôn nóng quá.

‎Không ngờ ta chạm mặt sớm vậy, phải chứ?

‎Nhưng là Ben, phải không?

‎Cô vốn luôn có mắt nhìn người.

‎Hay ta nói về ông đi?

‎Làm sao ông làm được? Thôi nào.

‎Làm sao ông bất ngờ ‎đón đầu bọn tôi ở Chicago?

‎- Tôi biết ông thèm kể lắm. ‎- Phải!

‎Được kể rồi!

‎Tôi thích phiêu lưu mạo hiểm, cô thì sao?

‎Chắc cô cũng đoán ra phần nào rồi.

‎Tôi cho ‎Alice ‎chạy cầm chừng,

‎xoay xở ẩn náu ‎trong nhà kho của nó vài tháng.

‎Lúc các người ở phía bên kia địa cầu,

‎ngoài tầm ngắm của vệ tinh, ‎bọn tôi đã trang bị.

‎Melanie ạ, tôi luôn rình rập,

‎chờ đúng thời điểm vồ mồi.

‎Và...

‎ông đã đi đường tắt?

‎Ừ. Ông đi qua đường chạy thử ‎ở núi Rocky, phải không?

‎Khi cô đưa tôi chìa khóa...

‎tôi sẽ kể hết cho cô.

‎- Không được. ‎- Cô sẽ đưa.

‎Có thể cô đã cắt móc nối,

‎nhưng tôi vẫn có thể ‎thả neo và chặn tàu cô lại.

‎Nếu ngắt nối, ‎Snowpiercer ‎ sẽ không tồn tại quá 20 phút.

‎Mỉa mai thật nhỉ, đệ tử của tôi?

‎Cô chạy trốn tôi bao năm qua,

‎rồi bỗng nhiên lại không thể xa rời tôi.

‎Tôi muốn lấy lại con tàu, Melanie.

‎Thật ra, ông vẫn ‎điều hành nó cho đến gần đây.

‎Cô nói vậy là sao?

ความคิดเห็น

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left