Ben-Hur

Ben-Hur

Vietnamese felirat letöltése

Kiadási információk

Ben Hur 2016 1080p BluRay x264-GECKOS
Kommentár thewestwind
Edit lại đôi chút từ bản dịch của Fcine.net. Xin chân thành cám ơn các bạn.

Címkék

BluRay
x264
1080
Közzétéve: 2016-11-29
Letöltések: 74
Hallássérülteknek: No

Vietnamese felirat előnézete

Az első 200 sor.

Trong thời đại của Messiah,

đế chế La Mã đã phát triển và mở rộng lên đến hàng ngàn dặm.

Đó là một đế chế được nuôi dưỡng bởi máu,

và được bảo hộ bằng nỗi sợ hãi.

Họ sẽ lấy mọi thứ mà bạn có.

Họ còn mời bạn đến tham dự trò chơi của họ để người khác chịu đày đọa

và quên đi những gì bạn vừa mất đi.

Họ chỉ để lại cho bạn nỗi đắng cay

và khao khát được trả thù.

Lẽ ra ngươi nên tránh ra.

Lẽ ra ngươi nên giết ta đi.

Ta sẽ làm điều đó.

Đừng làm con ngựa của em kiệt sức quá sớm.

Còn 3 vòng nữa.

Tiếp tục đi, Judah!

Đừng làm bản thân mất thể diện.

Anh hãy cẩn thận.

Em là một hoàng tử, không phải là chiến binh.

Hoàng tử Judah Ben-Hur, một người Do Thái.

Messala Severus, người anh trai nuôi của anh ta, là một người La Mã.

Họ lúc nào cũng ganh đua với nhau.

Em là kẻ lừa đảo.

Lừa đảo hả? Vậy mới xứng với dân La Mã bọn anh.

Thật hèn hạ.

Cha của Judah qua đời

vẫn mang hy vọng rằng hai anh em họ

có thể là biểu tượng của sự đoàn kết ở vùng đất bị chia cắt này.

Đồ lừa đảo.

Còn 1 vòng nữa.

Judah.

Judah!

Judah!

Cứu với.

Mẹ ơi!

Judah bị thương rồi. Có ai không? giúp với.

Mẹ ơi!

Bảo mẫu. Mau. Đỡ nó đi. Mau lên.

- Cẩn thận. - Đã xảy ra chuyện gì, Judah?

Judah!

- Nó bị mất rất nhiều máu. - Anh ấy không sao chứ?

- Có chuyện gì vậy? - Em ấy vấp trúng tảng đá.

Mẹ ơi!

Mau lên, tìm ngự y đến coi cho anh con.

Tirzah! Đi đi.

- Esther? - Dạ, cha?

Mau chuẩn bị phòng cho hoàng tử Judah.

- Lấy nước. - Mau lên đi Esther.

Cẩn thận.

Lấy nước đi.

Đứng lên.

Nó bị thương rất nặng. Con đã làm gì thế?

Con không làm gì cả. Chỉ là một tai nạn mà thôi.

Judah bị ngã khỏi ngựa.

- Bọn con cưỡi ngựa và... - Đua ngựa thì có.

Mẫu hậu.

Con phải làm gì?

Con đã làm quá đủ rồi. Giờ hãy cầu nguyện đi.

Con trai ta sẽ sống chứ?

- Minerva... - Ngài sẽ không sao.

- Ngự y đã nói vậy. - Cầu xin nữ thần, hãy cứu nó.

Nhưng mẹ ơi, có vẻ như anh ấy đau lắm.

Cũng nhờ Messala của con đó.

Mạnh mẽ lên, hoàng tử Judah.

Khoan đã.

Cô giống như một thiên thần.

Tirzah.

Đi ngủ đi.

Chúc anh ngủ ngon.

Chúng ta còn có những thần thánh khác, Messala.

Chúng ta chơi có vui không?

- Esther, hãy nhảy với tôi. - Tôi không được phép.

Chúng ta có thể là đề tài để người khác bàn tán.

Đây có thể là một việc chấn động.

Để tôi giúp cô.

Tôi tự làm được rồi. Đây không phải là chỗ ngài nên đến.

Em biết không có cả một thế giới rộng lớn bên ngoài Jerusalem.

Hy Lạp, Persia, Ai Cập.

Anh chỉ muốn đến những nơi đó.

Anh chán việc đọc nó từ sách, nghe từ lời kể của những kẻ du hành.

- Còn em? - Ừ.

- Nhưng anh nói nghe dễ dàng quá. - Nó không dễ chút nào.

Nhưng cuộc sống là thế mà.

Tirzah.

Con đưa mẹ vào phòng ngủ được không?

Con đã ở bên Messala quá nhiều đó.

Nếu con không làm vậy thì mẹ đâu còn gì để than phiền về con.

"Hãy rũ lòng thương xót tôi, hỡi thế gian"

" Không phải là một trong số 359 vị thần đang mỉm cười với ta"

Đừng mỉa mai.

Anh sao vậy? Đây là một buổi tiệc mừng mà.

Đây là buổi tiệc mừng của tín ngưỡng của em, không phải anh.

Chỉ là để uống rượu thôi mà. Không có sự khác biệt gì đâu.

Chuyện gì giữa anh và Tirzah vậy?

Mẹ em không muốn bọn anh nói chuyện.

Ai lại quan tâm các bà mẹ nghĩ gì chứ?

Mẹ em thì có.

Rồi thì?

- Nghe này Judah, anh... - Anh có tình cảm với Tirzah.

Messala, thừa nhận đi.

Anh phải làm gì đây?

Em và gia đình của em là dòng dõi hoàng tộc.

Thế thì đã sao?

Em thà là con bé chú ý đến anh

còn hơn mấy tên cục súc khác.

Cám ơn em.

Em không nói anh cục súc. Em đang nói là anh hơi bạo lực.

Simonides, ngủ đi. Messala!

- Anh và Tirzah sẽ giống như... - Giống như gì?

- Như một gia đình. - Chúng ta không phải là một gia đình.

Đúng không?

Anh chỉ là đứa bé mồ côi thấp hèn mà gia đình em nhận nuôi.

Thánh thần ơi. Dĩ nhiên chúng ta là một gia đình rồi.

Anh là anh trai của em. Anh sẽ luôn là anh trai của em.

Mọi thứ em có được đều là của anh.

Không. Anh sẽ không bao giờ có được tên của em.

Và mỗi khi tên của anh được nhắc đến, nó luôn

được nhắc cùng với câu chuyện của ông nội anh.

Anh phải lấy lại nó.

Messala, chờ đã.

Messala.

- Anh định đi đâu? - Anh đến La Mã.

Khoan đã. Ý anh là sao? Anh đến La Mã à?

Messala, dừng lại.

Hoàng đế kêu gọi mọi người dẹp tan phiến loạn ở Germania.

Ông ta kêu gọi những kẻ ngốc đứng lên chiến đấu và chết.

Thật không thể tin nổi.

Sau mọi thứ mọi người làm cho anh,

anh vẫn muốn đi và chiến đấu giúp bọn giết người.

Thu nhập ổn định.

Thu nhập ổn định?

Khi đó anh có thể trở về với Tirzah cùng với sự giàu có và danh tiếng.

Nhưng giàu có không có nghĩa gì hết.

Em đã giàu rồi thì chắc chắn không có nghĩa rồi.

Nghe này, hãy nói với Tirzah...

Nếu có gì muốn nói với nó thì tự đi mà nói.

Nếu không thì anh cứ đi đi.

Judah?

Messala đâu rồi anh?

Messala.

Em hy vọng anh sẽ nhận được lá thư này.

Cùng với những lá thư khác mà em đã gửi trong suốt 3 năm nay,

em không nhận được sự hồi âm nào cả.

Em chỉ có thể hy vọng nguyên nhân là do sự lựa chọn của anh chứ không phải do cái chết.

Anh luôn thích không nhìn thấy quá trình nấu nướng trước khi ăn.

Đó có thể là một ý kiến hay.

Anh sẽ khó nhận ra Jerusalem hiện giờ.

Gì vậy? Em đang nhìn gì thế?

Trường đấu.

Người La Mã vấn tiếp tục để lại dấu ấn

và xây dựng trường đấu của họ.

Khi anh trở về, em sẽ vinh danh sự kỳ dị

bằng cách trêu chọc anh ở một trong những kiểu xe mà người La Mã các anh rất thích.

Tất nhiên rồi.

Nhưng anh à, em có tin muốn báo anh biết.

Đây, thử đi.

2 tháng trước,

cha của Esther đã gả cô ấy cho một người La Mã giàu có.

Chúng ta phải tìm cho em một thứ đặc biệt.

Không cần đâu, em không cần gì hết.

Em đã cho cô ấy lời chúc mà trong lòng em biết rõ đó là một sai lầm.

Em nhớ lại rằng em thường trêu chọc mẫu hậu

là một ngày nào đó bọn em sẽ kết hôn.

Chúa ở cùng em.

Nếu biết suy nghĩ của con trai bà ấy, một hoàng tử,

muốn kết hôn với một nô lệ sẽ tiễn bà ấy xuống mồ sớm.

Em không thể để cô ấy ra đi.

Nếu em rời đi, anh chẳng còn gì cả.

Giờ cô ấy đã là vợ của em, anh à.

Mặc dù cuộc sống của bọn em rất tuyệt,

La Mã vẫn đến và gây áp lực cho thành phố.

Những cuộc tấn công liên tiếp làm cho họ mất hết kiên nhẫn.

Cũng may là chúng ta còn có thể giữ vững hòa khí với họ.

Còn bây giờ.

Hãy nghe lời cầu xin của em.

Anh hãy bình an vô sự và trở về.

Em sẽ nghe mọi câu chuyện anh kể.

Judah.

- Em vừa tìm thấy gì thế? - Em không biết là gì nữa.

Anh biết đây là gì. Đó là bảng Senet.

- Bao nhiêu tiền vậy? - 5 đồng.

Hôm nay, một kẻ cuồng tín sẽ...

sẽ bị trừng phạt bằng cách đóng định vào giá chữ thập theo luật.

- Không. - Hãy xem sự trừng phạt này...

như một sự răn đe.

- Đám cuồng tín. - Tất cả những gì họ muốn là tự do.

Và cái giá là gì?

Nếu họ làm theo cách của mình

thì họ sẽ khiến quân La Mã đổ bộ đến đây.

Sau đó tự do của chúng ta sẽ ở đâu?

- Bao nhiêu tiền? 5 đồng hả? - Cám ơn hoàng tử.

Vẫn có tự do ở nơi khác.

Sao cơ?

Hãy yêu kẻ thù của mình.

"Yêu kẻ thù của mình" Câu đó thật tiến bộ.

Đó là sự thật.

Chúa là tình yêu. Ngài muốn chúng ta chia sẻ tình yêu đó.

Vậy thì tình yêu của ta sẽ ở đâu

khi mà người La Mã trút giận lên chúng ta?

Thù hận và nỗi sợ đều là những ão ảnh.

Chúng khiến ta tàn sát nhau.

More Vietnamese subtitles for Ben-Hur

Hozzászólások

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left