The first 200 lines.
BÃO DỒN
Ngày 1/9/1939 quân đội Đức tấn công sâu vào Ba Lan
để giành chiến thắng nhanh chóng và toàn diện.
Chỉ mới 20 năm trước, cha ông họ cũng từng hành quân thế này,
nhưng phải trở về quê hương như đoàn quân thất trận.
Tháng 11/1918, sau 4 năm của Đệ Nhất Thế Chiến,
Hoàng đế Đức, Kaiser Wihelm II, buộc phải thoái vị.
Quân đội của ông bị chặn đứng trước cuộc tấn công vũ bão của quân Anh, Pháp và Mỹ
Dân của ông phải đối mặt với nạn đói.
Nhưng một tư tưởng nguy hiểm đã hình thành.
Các tướng lĩnh Đức và cả những người lính đều cho rằng họ không bại trận,
mà là do các chính trị gia hèn nhát ở trong nước phản bội.
Dù vậy, lúc 11h sáng ngày 11/11/1918,
giờ thứ 11, ngày 11 của tháng 11, Thế chiến thứ nhất kết thúc.
Một tháng sau, tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson
tới châu Âu hứa hẹn tạo ra một trật tự thế giới mới.
Ông thuyết phục các nhà lãnh đạo tham gia một Hội quốc liên mới.
Trong Hiệp ước Versailles,
họ thống nhất rằng từ nay, không giải quyết tranh chấp giữa các nước bằng chiến tranh,
mà bằng tranh luận trong Hội quốc liên.
Người dân châu Âu được giải phóng.
Và đồng minh của Đức, đế quốc Áo - Hung bị chia tách.
Ngoài ra, có vài quốc gia mới ra đời.
Áo, Ba Lan, Hungary, Tiệp khắc,
Nam tư, Latvia, Lithuania và Estonia.
Bản thân lãnh thổ Đức bị thu hẹp đáng kể.
Nhưng điều này ẩn chứa một trái bom hẹn giờ.
Không phải ai cũng chào đón sự ra đời của những nước như Tiệp khắc.
Họ là những "thiểu số" người Đức khá đông trong các nước đó.
Sự ham muốn thống nhất các dân tộc Đức rồi sẽ ám ảnh châu Âu.
Cuộc chiến chia rẽ người Đức còn mang cho họ một nỗi nhục khác.
Họ buộc phải trả khoản tiền khổng lồ 6,6 tỉ bảng
bồi thường chiến tranh cho Anh và Pháp, khoản tiền mà họ không trả nổi.
Khi tổng thống trở lại Mỹ, trật tự thế giới mới của Wilson lập tức đổ vỡ.
Quốc hội Mỹ quyết định không mạo hiểm để bị hút vào một cuộc chiến khác ở châu Âu.
Họ từ chối tham gia Hội quốc liên, và nước Mỹ rút vào chủ nghĩa biệt lập.
Giờ nước Đức là một quốc gia khác biệt.
Vẫn là nước lớn nhất châu Âu, nhưng chế độ quân chủ quân phiệt đã không còn.
Thay vào đó là một nước dân chủ.
Nhưng chính phủ được gọi là cộng hòa Weimar ấy, sớm phải đối mặt với một loạt sóng gió lớn.
Bạo loạn đường phố giữa phe dân tộc chủ nghĩa
và phe cộng sản đang cố khơi mào cách mạng.
Rồi tới năm 1923, đất nước bị kiệt quệ do siêu lạm phát,
lên tới hàng trăm phần trăm mỗi tháng.
Tiền tiết kiệm của người dân bị mất sạch.
Đây là mảnh đất màu mỡ cho các chính trị gia cánh hữu kích động quần chúng.
Trong số đó có Adolf Hitler.
Hitler sinh ra ở Áo.
Từng chiến đấu dũng cảm trong Thế chiến I, và được tặng huân chương Chữ thập sắt.
Khi trở về Đức, Hitler định cư ở Munich,
và bài hùng biện bốc lửa mau chóng giúp ông ta kiểm soát
một đảng Quốc gia xã hội nhỏ còn gọi là Đảng Quốc xã.
Tháng 10/1923, Hitler và các đảng viên làm đảo chính vũ trang
chống lại chính quyền Wimar.
Đảo chính thất bại và Hitler bị kết án 9 tháng tù.
Trong tù, Hitler viết cuốn "Mein Kampf", "Cuộc tranh đấu của tôi",
Trong đó nêu nhược điểm của Đức đối với người Do Thái,
và yêu cầu phải khôi phục sức mạnh, tìm kiếm lãnh thổ mới ở phía Đông.
Ra tù, Hitler xây dựng Đảng Quốc xã thành một đảng chính trị hợp pháp, có kỷ luật.
Từ đó, ông ta dùng hệ thống dân chủ để đạt quyền lực.
Nhưng trong 5 năm tiếp theo, chính quyền Weimar lớn mạnh.
Sự ủng hộ cho các phe cực hữu và cực tả giảm dần.
Bỗng nhiên, cơ hội của Hitler xuất hiện.
Tháng 10/1929, thị trường chứng khoán Mỹ sụp đổ.
Hàng tỉ đô la bốc hơi, và suy thoái kinh tế càn quét khắp thế giới.
Số người thất nghiệp ở Đức vọt lên hơn 6 triệu.
Chỉ những chính trị gia cực đoan dường như có giải pháp.
Họ là những người như Hitler.
Tới năm 1931, Đảng Quốc xã là tổ chức lớn mạnh thực sự.
Họ có lực lượng áo nâu riêng,
sư đoàn bão táp SA với quân số gần 3 triệu người.
Trong cuộc bầu cử năm 1923, Quốc xã thành đảng lớn nhất nghị viện Đức,
Nhưng Hitler từ chối liên minh khiến nghị viện Đức bị tê liệt.
Để khai thông bế tắc, tổng thống Hindenburg để ông ta làm thủ tướng
vào tháng 1/1933, Hitler thành nguyên thủ quốc gia.
Trong 1 tháng, nghị viện bị cháy rụi.
Hitler cáo buộc cho phe Cộng sản và đòi quyền hạn khẩn cấp.
Ông ta dùng quyền đó để cấm các đảng chính trị khác.
Tháng 8/1934, tổng thống Hindenburg qua đời.
Hitler tự tuyên bố là tổng thống.
Và trở thành nguyên thủ tối cao của nước Đức (Fuehrer).
Thời kỳ đầu có rất ít dấu hiệu của những gì sẽ xảy ra.
Quốc trưởng dành 3 năm sau khi lãnh đạo để tập trung xây dựng lại nền kinh tế nước Đức.
Ông ta chi tiền triệu cho các công trình công cộng,
bao gồm 5000 dặm hệ thống đường xá, và tăng cường chống thất nghiệp.
Nhưng, Hitler cũng bí mật chi tiêu cho một chương trình tái vũ trang khổng lồ.
Theo Hiệp ước Versailles, quân đội Đức bị giới hạn trong 100.000 người.
Đất nước bị cấm trang bị không quân, xe tăng hoặc tàu ngầm.
Quân đội nhỏ này đã tăng gấp ba lần.
Vào năm 1935, Hitler bắt đầu lộ diện.
Ông ta công bố một lực lượng mới, Không quân Đức.
Nó có 2.500 máy bay, vượt xa cả Anh và Pháp.
Thất nghiệp giảm mạnh, và Đảng Quốc xã trở nên rất hùng mạnh.
Giờ đây, Quốc trưởng mạnh dạn thực hiện những bước đi đầu tiên của mình.
Năm 1935, ông tái chiếm quận Saarland sát biên giới nước Pháp,
sau khi quận này bỏ phiếu muốn trở về Đức ở Hội Quốc liên.
Một năm sau, ông ta đưa quân đội Đức vào vùng Rhineland,
phần của nước Đức đã bị phi quân sự hóa tại Versailles.
Vào lúc đó, nhiều người cho rằng Hitler chỉ đòi lại những gì thực sự là của Đức.
Cả Anh và Pháp đều không phản đối.
Khi Berlin đăng cai đại hội Olimpic 1936,
Đức Quốc xã được nhiều người xác nhận là công bằng,
một chính phủ đã khôi phục lại niềm tự hào của quốc gia,
và không đe dọa ai cả.
Dĩ nhiên có một số dấu hiệu.
Luật Nuremberg 1935, cấm người Do Thái kết hôn với người Đức gốc Aryan,
và tước đoạt quyền công dân của họ.
Nhưng mối đe dọa đầu tiên cho nền hòa bình thế giới,
lại chẳng dính dáng gì tới Hitler,
nó từ nơi nào đó, một quốc gia khác.
Nhật bản đầu thế kỉ 20 đã là nước quân sự hùng mạnh.
Thắng Nga trong chiến tranh năm 1905 và chiến đấu bên phe Đồng minh trong Thế chiến I.
Sau chiến tranh, Nhật bản là một cường quốc thế giới,
và đã gia nhập Hội quốc liên.
Nhưng, về chính trị, nước này là một mớ hỗn độn đối lập.
Trên danh nghĩa dân chủ, chế độ phong kiến vẫn rất mạnh.
Hầu hết người Nhật tôn thờ Nhật hoàng như một vị thần,
và coi ông là nhà lãnh đạo thực sự.
Đất nước đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế lớn,
dân số vẫn bùng nổ.
Tài nguyên thiên nhiên không đủ cho nền công nghiệp đang lớn mạnh.
Các lãnh đạo cần giải pháp,
và họ đã tìm thấy chúng ở Mãn châu.
Mãn châu có nhiều cánh đồng ngũ cốc màu mỡ,
giàu than đá và khoáng sản.
Đó là mục tiêu hoàn hảo.
Và quân Nhật đóng quân ở đó.
Các mục tiêu khác nằm trong tay các cường quốc châu Âu,
Miến điện, Malaysia và Hồng Kông của Anh,
Đông dương do Pháp đô hộ và Đông Ấn của Hà lan.
Nhưng ở đây, Nhật phải thận trọng.
Họ không muốn khiêu khích một cường quốc khác ở Thái Bình Dương,
Nước Mỹ
Với khẩu hiệu chống chủ nghĩa đế quốc,
Hoa kỳ điều khiển đế chế không chính thức ở Thái Bình Dương.
Philipine, Guam và vài hòn đảo đều do Mỹ chỉ huy.
Rõ ràng Mỹ có sức mạnh vượt trội Nhật bản,
nhưng sau Thế chiến I họ có các trò tiêu khiển khác.
Đây là thời kỳ của nhạc Jazz Mỹ
Thập niên 20, Mỹ tập trung khai thác nguồn tài nguyên lớn của mình.
Đó là sự bùng nổ kinh tế không có đoạn kết.
Lợi nhuận thu về từ cả hai mặt công nghiệp và thị trường chứng khoán.
Nước Mỹ như lạc vào cuộc vui bất tận.
Với những phân tâm như thế,
nỗi lo nước Nhật đang dần lớn mạnh ở Thái Bình Dương có vẻ xa vời.
Hoa Kỳ đã cắt giảm quân đội sau Thế chiến I,
và kí hiệp ước thu hẹp hải quân với Anh, Pháp và Nhật.
Chính điều này, đã dâng ưu thế hải quân ở Thái Bình Dương vào tay người Nhật.
Và rồi đến cuộc Đại suy thoái.
Khi thảm họa kinh tế lan tràn, 1/4 dân số mất việc làm.
Hàng chục ngàn người vô gia cư sống trong các khu ổ chuột.
Trong khi trước đó nước Mỹ tràn ngập trong hoan lạc, giờ họ chỉ còn nỗi khổ đau.
Đã tới lúc Nhật bản hành động.
Năm 1931, thậm chí không thèm báo cho chính phủ dân cử của họ,
quân Nhật đánh Mãn châu, chiếm kinh đô Mukden,
và sau đó chiếm toàn bộ lãnh thổ.
Quốc gia danh nghĩa Mãn châu quốc do một vị vua bù nhìn trị vì.
Phổ Nghi, hoàng đế cuối cùng của Trung Hoa,
người bị phế ngôi năm 1911, lại được dựng lên.
Tại trụ sở Geneva
Hội quốc liên đối mặt với thử thách nghiêm trọng đầu tiên.
Nhật Bản bị lên án toàn cầu.
Nhưng phản ứng của họ rất lỗ mãng.
Tuy nhiên nước Nhật thấy không thể chấp nhận
bản báo cáo được thông qua bởi hội đồng..
Khi người Nhật bỏ ra ngoài,
và Hội quốc liên chợt nhận ra rằng họ chẳng thể làm gì được cho Mãn châu.
Nhật bị tuyên bố "bên lề quốc tế", nhưng họ cóc cần.
Lãnh đạo của họ còn đang để mắt đến việc tiếp tục xâm chiếm Trung hoa.
Việc này vô cùng dễ dàng, Trung quốc đang rơi vào hỗn loạn
Chính quyền của Tưởng Giới Thạch
bị kìm chân bởi xung đột với đảng Cộng sản dưới quyền Mao Trạch Đông,
Nội chiến nổ ra.
Năm 1936, điềm báo cho cuộc xâm lăng,
Nhật bản ký hiệp ước với Hitler.
Nhằm ngăn chặn mọi cuộc tấn công của Liên Xô, để tiếp tục tiến vào Trung quốc.
Sau đó, vào tháng 7 năm 1937, Nhật gây hấn với quân đội Trung Quốc và xâm chiếm.
Ban đầu, Trung quốc rất bất ngờ.
Nhưng họ lập tức đánh trả dữ dội,
Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng hợp nhất thành một mặt trận.
Nhật đáp trả bằng các cuộc đổ bộ.
Cuối năm 1937, họ chiếm phần lớn miền Bắc Trung quốc và vùng duyên hải.
Người Nhật tiến hành cuộc chiến này với sự tàn bạo đặc biệt,
đánh bom bất kể thành phố.
Người phương Tây sống trong trung tâm thương mại của Thượng Hải cũng phải di tản.
Bị bao vây ba tháng.
Thành phố thiệt hại nặng nề, quân Nhật không tỏ ra thương hại hay lo lắng cho người dân bản địa.
Nhưng sau vụ bắt bớ ở Nam Kinh, khi đó là thủ đô Trung quốc vào ngày 17/12/1937,
quân Nhật thực sự nổi cơn cuồng nộ.
Ước tính, hơn 300.000 thường dân đã bị thảm sát
trong sáu tuần lễ say máu, hãm hiếp, giết chóc vô tội vạ.
Người Nhật thậm chí tấn công cả tàu chiến Anh và Mỹ
được gửi đến bảo vệ tàu hàng và tàu buôn.
Sự cố tồi tệ nhất xảy ra ngày 12/12/1937.
Pháo hạm Panay của Mỹ bị bom Nhật đánh đắm, 50 thủy thủ thiệt mạng.
Mặc dù vậy, các cường quốc phương Tây từ chối can thiệp.
Hội Quốc liên cũng chẳng động tĩnh gì.
Tại Hoa Kỳ, Tổng thống Roosevelt muốn áp lệnh phong tỏa hải quân Nhật.
Rõ ràng rằng hành vi và chính sách của các nước ở bên kia bán cầu
đã ảnh hưởng sâu rộng tới chúng ta.
No comments yet. Be the first to leave one.