The first 200 lines.
Rạn san hô Great Barrier.
Là ngôi nhà của nhiều quần thể
động thực vật tuyệt vời khác nhau.
'Ở đây, không biết có bao nhiêu loài được tìm thấy
và điều đáng ngạc nhiên được khám phá về những loài mà chúng ta nghĩ là chúng ta đã biết.
Trong loạt phim này, thiết bị khảo sát của chúng ta, tàu Alucia,
'sẽ cho phép thăm dò và hiểu biết rạn san hô theo cách chưa từng xảy ra trước đây.
'Thiên đường dưới biển này có thể được hiểu rõ hơn
'đối với một rạn san hô kỳ vĩ...
'..nhưng cũng còn 300 các hòn đảo cát.'
600 đảo lục địa.
Hằng dặm rừng xum xuê.
Và những eo biển sâu.
Mỗi thứ trong các môi trường sống thu hút những vị khách mời khác nhau.
Khi lần đầu tiên tôi đến đây đã 60 năm rồi,
chúng ta biết rất ít về các quần thể này.
Nhưng hôm nay, với hệ thống dẫn đường mới cho phép chúng ta
theo dõi cách sống của những sinh vật này bằng một cách khác.
Từ những thú săn mồi vĩ đại của đại dương...
..tới những con cá voi huyền bí tìm cách tiếp xúc với con người.
Chúng ta sẽ khám phá những lý do đáng ngạc nhiên của những vị khách thăm viếng
và tiết lộ tại sao rạn san hô quan trọng đến sự sống còn của chúng.
RẠN SAN HÔ GREAT BARRIER VỚI DAVID ATTENBOROUGH
NHỮNG KHÁCH THĂM VIẾNG
Viết kịch bản và dẫn chương trình DAVID ATTENBOROUGH
Lần trước, chúng ta đã xem xét tính phong phú của các quần thể động vật
sống với các dải san hô,
nhưng dải san hô cũng tiếp nhận các vị khách.
Có những loài phải vượt qua hằng ngàn dặm để đến đây
và chỉ ở đây trong vài tuần.
Một số khác sống bên rìa rạn san hô và đến đây hằng ngày.
Mỗi loài đều có lý do riêng để làm chuyện đó.
Great Barrier Reef chứa 3.000 dải san hô khác nhau.
Nó kéo dài 2.300km dọc theo bờ biển đông bắc nước Úc.
Và mỗi năm nó thu hút hằng triệu sinh vật di cư.
Chúng ta sẽ bắt đầu thăm dò từ phương bắc,
ở phía ngoài của vùng hoang dã rộng lớn này.
Phương tiện khảo sát của chúng ta, tàu Alucia,
sẽ mang chúng ta đến rạn san hô Osprey.
Một rạn san hô biển dài 90 dặm, tức 150 km
từ bên rìa của rạn Great Barrier.
Dù nằm đơn độc, tuy nhiên nó giữ vai trò quan trọng
trong cuộc sống của nhiều cư dân trong rạn Great Barrier.
Điều gì đã làm cho dải san hô Osprey trở nên thú vị
khi nằm trên đường đi của dòng hải lưu nam xích đạo?
Đây là một xa lộ đông đúc
quét qua các vị khách thăm viếng khác nhau đến rạn san hô chính.
Chúng ta đến đây để khám phá
tại sao tiền đồn xa xôi này lại quan trọng với chúng đến như vậy.
Để làm điều đó, chúng ta sẽ dùng một kỹ thuật đặc biệt tiên tiến,
tàu lặn Triton của tàu mẹ Alucia.
Đó là con tàu đầu tiên lặn ở vùng nước này.
Huh! Trông như nước đang sủi bọt ở ngay đây,
nhưng thực tế, chân tôi không ướt tí nào.
S-O, S-O, đây là Nadir. Tôi lặn được chứ? Hết.
'Nghe rõ Nadir. Bạn lặn được, cứ lặn đi.
'Một chuyến lặn an toàn nhé, anh bạn.'
Được. Lặn ngay đây.
Xem kìa!
'Chiếc tàu ngầm chẳng những cho chúng ta cái nhìn 360°,
'nó còn cho phép chúng ta lặn đến cả độ sâu mà con người không thể lặn đến.'
Trong chuyến lặn này, chúng ta chỉ xuống đến 35m,
tức trên 100 bộ,
nơi có thể quay lại được hầu hết các đời sống hoang dã ở đây.
Nhà địa chất biển mới đây đã thu thập đủ dữ kiện
cho chúng ta lần đầu tiên tạo ra một hình ảnh ba chiều
cho dải san hô Osprey.
Trên thực tế, có một ngọn núi to lớn ẩn sâu bên dưới những con sóng
và nhô thẳng đứng lên cách đáy biển 2.400m.
Đỉnh của ngọn núi rộng lớn này tạo ra các đầm phá nông
nuôi dưỡng những quần thể đông đúc của rạn san hô.
Vách của núi đá trước mặt tôi là sườn của rạn Osprey.
Trong khi các dòng hải lưu lạnh và giàu dinh dưỡng của đại dương
đến và xô đập vào nó, nó nhô lên trên.
Tạo ra một ốc đảo cho các sinh vật đủ mọi loài.
Nhiều loài sống ở đây suốt năm.
Và ông chủ của tất cả là cá mập.
Có một con kìa! Nó đến thật gần.
Khi bạn nói đến cá mập, là nói đến vẻ đẹp của nó khi lội trong nước.
Thú săn mồi thường trực này chỉ quan tâm đến một điều -
nơi đây đầy đủ thức ăn.
Đối với các sinh vật đến rạn san hô từ một khoảng cách xa xôi,
làm cho Osprey là điểm đến đáng thèm thuồng trong cuộc hành trình của mình.
Ngọn núi mọc lên từ lòng biển là trạm dừng chân cho mọi du khách.
Chúng đến từ khắp nơi.
Từ cá mập hổ đến rùa biển.
Chúng đến để nạp thêm năng lượng, và có vẻ như để sửa sang lại mình.
Đây cũng là biển chỉ đường
và là điểm kiểm tra trên đường đến rạn san hô.
Các vị khách thăm viếng đến suốt năm.
Trong số chúng có cá mập đầu búa.
Giống như tất cả các loài cá mập, chúng có các thụ cảm nhỏ xíu trên mũi
có thể tiếp nhận các tín hiệu từ từ trường trái đất.
Và giúp cho chúng hướng ra khoảng xanh vô tận của vùng biển mở.
Cũng có cá mập hổ ở đây.
Chúng đến rạn san hô để kiếm ăn.
Và có vẻ chúng biết chính xác nơi chúng đến.
Tỉ lệ não của loài cá mập này
lớn hơn bất kỳ loài cá mập nào khác.
Hai lỗ mũi của chúng hoạt động độc lập với nhau,
cho phép ngửi theo không gian ba chiều và theo dấu con mồi ở khoảng cách rất xa.
Từ Osprey, một số cá mập hổ
di chuyển đến một điểm đến chuyên biệt trên rạn san hô.
Cách 350km về phía bắc Osprey là đảo Raine.
Vào mỗi mùa hè, cá mập hổ nhất định sẽ đến đây.
Chúng đến để hưởng lợi từ một sự kiện của rạn san hô -
chuyến đến của bầy rùa xanh cái.
Cá mập hổ không đến đây để giết, chúng đến để ăn xác chết.
Những con rùa không may đã không còn sống sót
sau một chuyến di cư kiệt sức.
Đó là lý do tại sao cá mập hổ mang biệt danh...
..cái thùng rác của biển.
Chúng yêu thích cuộc sống dễ dàng của một kẻ ăn xác chết,
nên phần lớn loài rùa xanh rất ít sợ thú săn mồi này.
Vào những tháng mùa hè, rùa xanh đến đây hằng ngàn con.
Chúng từ những nơi xa xôi như New Guinea, Vanuatu Vanuatu: đảo quốc ở miền tây nam Thái Bình Dương, phía đông nước Úc (bao gồm khoảng 80 hòn đảo), trước đây gọi là New Hebrides, ngôn ngữ thông dụng là tiếng Anh và tiếng Pháp, đơn vị tiền tệ là Vatu, diện tích 12.190 cây số vuông, dân số khoảng 200.000 người, thủ đô là Port-Vila, quốc hiệu là Cộng hoà Vanuatu.
và Tân Caledonia về phía đông,
cũng như từ eo biển Torres và xa hơn về phía đông. Eo biển Torres là một vùng nước nằm giữa đảo New Guinea và bán đảo Cape York, Queensland, Australia. Chỗ hẹp nhất củng khoảng 150 km. Wikipedia.
Một số đã đi qua một khoảng cách ấn tượng 2.500km
để đến bờ biển đặc biệt này.
Chỉ đo được vài trăm mét bề ngang,
một điểm nhỏ trên đại dương rộng lớn.
Nhưng đảo Raine giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng.
70% rùa xanh của rạn san hô Great Barrier đến đây sinh sản.
Đó là một trong những địa điểm làm tổ quan trọng nhất trên thế giới.
Tôi đến thăm đảo Raine lần đầu tiên để làm loạt phim truyền hình
có tên Zoo Quest (Tìm kiếm vườn thú) vào năm 1957.
Vào lúc đó, đảo Raine ít được biết đến và ít được thăm viếng.
Đó là lần đầu tiên tôi thấy một con rùa xanh nở ra.
Nhưng lúc đó, chúng ta không có khái niệm đặc biệt gì
câu chuyện về loài rùa này để kể.
Bây giờ chúng ta biết rằng nếu chúng sống sót,
chúng sẽ trải qua 40 năm để sống một đời sống ở biển cả.
Chỉ có đảo Raine là nơi chúng trở lại sinh sản.
Và điều đáng ngạc nhiên, chúng trở lại chính xác cùng một bờ biển
nơi chúng đã tự nở ra.
Làm sao chúng biết đường trở về sau khi sống hằng thập niên trên biển
vẫn còn là điều huyền bí bao trùm loài rùa này.
Nhưng những khảo sát mới gợi ra rằng, giống như cá mập,
chúng định hướng bằng cách sử dụng từ trường của trái đất.
Chúng nặng đến 130 kilo,
nên việc bò lên bờ biển là một công việc khá nặng nhọc.
Nhưng sẽ có 30,000 con rùa mẹ
đến bờ biển để đẻ trứng vào năm này.
Với một khoảng không sử dụng trong thời gian ngắn, mỗi con cái phải tìm chỗ cho riêng mình.
Một khi chúng đã đào được lỗ, việc đẻ trứng bắt đầu.
Mỗi quả trứng tròn kích thước như quả Ping-Pong.
Một con rùa cái có thể đẻ đến 120 trứng cho mỗi lần đẻ
và nó có thể làm như vậy sáu lần trong một mùa sinh sản.
Khi trứng đã được đẻ ra, rùa mẹ sẽ chôn chúng dưới cát.
Trong vòng 60 ngày, cát sẽ che chở chúng khỏi thú săn mồi
và bảo vệ chúng trước cái nóng của mặt trời.
Theo sát tiến trình của các con rùa
là Tiến sĩ Andy Dunstan thuộc Công viên biển Great Barrier Reef.
Đảo Raine là nơi sinh sản lớn nhất của loài rùa xanh trên thế giới.
Nên nó rất quan trọng
cho loài rùa xanh vào lúc này.
Vì lý do đó, đảo Raine là đảo bảo vệ của rạn san hô.
Chỉ có một nhóm các nhà sinh học mới được phép đến đây
Andy và các trợ lý của ông ta sẽ theo dõi rùa trong điều kiện tối ưu nhất.
Một số lượng rùa rất lớn chắc chắn sẽ tới bờ biển
để đẻ trứng trên đảo,
nhưng việc quan sát của đội này đã tiết lộ một xu hướng đáng lo.
Số lượng rùa con nở ra trong cát
đã sụt giảm đến 20%.
Một lý do trầm trọng đáng quan tâm.
Sự nở ra của rùa con đang diễn tiến
bây giờ chỉ gần bằng số lượng lẽ ra chúng phải có.
Khi chúng tôi đào xuống các tổ,
cho thấy số lượng trứng nở ra rất thấp.
Và điều này xảy ra vì những chất chính
làm cho đảo này thích hợp để làm tổ hơn những nơi khác.
Đảo Raine là một đảo cát. Chúng có thể di chuyển.
Nhưng đặc biệt cho loài rùa xanh ở đây,
vùng để làm tổ trở nên thấp, nên những gì chúng ta thấy bây giờ
sẽ không thấy trong 30 năm qua là sự ngập lụt do thủy triều.
Điều này cò nghĩa là ở thủy triều cao, hòn đảo bị ngập lụt từ bên dưới
và sự phát triển của trứng rùa bị nhấn chìm.
75% vùng làm tổ trên bờ biển không thích hợp.
Vì rùa phải mất một thời gian dài để trưởng thành,
chúng tôi trông mong thấy được sự bùng nổ về số rùa trưởng thành trong tương lai.
Nếu chúng tôi được điều gì đó thành công về đẻ trứng và trứng nở,
chúng ta sẽ thấy chúng phục hồi lại.
Năm ngoái, Andy và đội của ông ta thực hiện một dự án đầy tham vọng.
Trong một diện tích thử nghiệm, họ đã nâng cao vùng rùa đẻ
lên 1,5m.
Họ hy vọng sẽ giữ được những trứng phát triển
tránh xa thủy triều và các tác nhân gây hại.
Hai tháng dài kể từ khi trứng được đẻ,
đội giám sát trở lại xem kết quả như thế nào.
Dưới bóng đêm,
những con rùa mới nở bắt đầu trồi lên.
Chúng bắt đầu mở đường đi
xuyên qua cát sớm hơn hai ngày.
Đây là giây phút mà Andy và đội của ông ấy đang chờ mong.
Một cái rảnh nông giúp cho những kẻ đến muộn
và giúp cho đội đếm được rùa con.
Đến giờ này, các tín hiệu xem ra rất đáng khích lệ.
Và khi bóng đêm bao trùm, kết quả ngày càng tốt lên.
Kết quả rất tuyệt. Chúng tôi gặt hái được nhiều điều thành công,
No comments yet. Be the first to leave one.