Soviet Storm: WW2 in the East

Soviet Storm: WW2 in the East

Download Vietnamese Subtitle

Release info

Soviet Storm- World War II — In The East ep 15 Secret Intelligence of the Red Army StarMedia
A Commentary by pmqcondeo
Khớp với Youtube StarMedia

Tags

other
Published on: 2018-12-23
Downloads: 63
Hearing Impaired: No

Vietnamese subtitle preview

The first 200 lines.

BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.

Khi Hitler xâm lược Liên bang Xô-viết năm 1941,

mạng lưới điệp viên của Stalin bị xáo trộn rối bời.

Nhưng chẳng bao lâu sau, tình báo Xô-viết bắt đầu đáp trả...

Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011. Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”

của Nga và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.

CUỘC CHIẾN BÍ MẬT.

Ngày 21/6/1941, Maskva.

Một đoàn tàu tốc hành từ Berlin cập vào Ga Belorussia.

Trên tàu có Mikhail Vorontsov,

Tùy viên hải quân của Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin.

Anh xích tay mình vào chiếc vali.

Hai ngày trước, Vorontsov nhận được một điện tín khẩn từ Maskva

ra lệnh anh phải trở về lập tức.

Một toán hộ tống đến gặp anh trên sân ga,

gồm một quan chức của Dân ủy Ngoại vụ,

đi cùng 2 sĩ quan An ninh NKVD.

“Khỏe không?” “Nghiêm trọng vậy sao?”

“Còn hơn thế. Cậu phải gặp tận mặt mấy vị ấy mới được.”

Một ôtô của chính phủ đang đợi bên ngoài.

Vorontsov được ấn vào ghế sau,

ngồi giữa hai sĩ quan an ninh.

Anh được thư giãn lần đầu tiên kể từ khi rời Berlin.

Chiếc vali của anh giờ đã thuộc trách nhiệm của người khác.

Mikhail Aleksandrovich Vorontsov chiến đấu ở phe Bolshevik trong thời Nội chiến Nga trước khi

vào học Học viện Hải quân.

Sau khi tốt nghiệp, anh được đưa về Viễn Đông,

tại đó anh vươn lên làm Phó tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương.

Năm 1939, anh được đưa tới Berlin làm Tùy viên hải quân Liên Xô.

Người lái dừng xe lại bên ngoài Tháp Spatskaia,

lối vào Điện Kremlin.

Translator: SagePhamKT

10 phút sau,

Mikhail Vorontsov bước vào văn phòng của Stalin.

Trong số các tài liệu anh đem về từ Berlin, có bản sao một điện tín

mà anh được Tùy viên hải quân Thụy Điển đưa cho.

Điện tín có tiêu đề Đề nghị chính thức của Berlin

đề cập tới tuyến di chuyển của tàu chiến và máy bay Thụy Điển ở Biển Baltic

sau ngày 22/6/1941, để tránh va chạm với họ

trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô.

Công tác tình báo Xô-viết được tiến hành cả hợp pháp

thông qua các điệp viên đi lại bằng passport Xô-viết, lẫn bất hợp pháp qua các điệp viên

dùng giấy tờ giả.

Công tác tình báo nước ngoài

được thực hiện bởi mạng lưới gọi là “các trú sứ”.

Mọi thành viên của một “trú sứ” dù làm việc hợp pháp hay bất hợp pháp

đều có nhiệm vụ riêng biệt. Một điệp viên sẽ tuyển dụng và điều hành các điệp viên địa phương,

một điệp viên khác chịu trách nhiệm liên lạc điện đài,

một người nữa làm liên lạc viên chuyển tài liệu,

còn bản thân “trú sứ” sẽ điều phối toàn bộ hoạt động của nhóm.

Từ đầu thập niên 1920,

tình báo Xô-viết đã bắt đầu thiết lập các “trú sứ” hợp pháp

và bất hợp pháp trên khắp Châu Âu. Sau năm 1933,

và khi Hitler ngoi lên nắm quyền ở Đức, đã thấy rõ

quốc gia nào là mối đe dọa lớn nhất cho Liên bang Xô-viết.

Do đó, nhiều điệp viên Xô-viết được đưa lại vào nước Đức Quốc Xã

để thu thập thông tin về tiềm năng quân sự và dự tính của nước này.

Sau khi chiến tranh nổ ra năm 1939,

con số trú sứ Xô-viết bất hợp pháp ở Đức

tăng 50 %.

Những mạng lưới tương tự cũng hoạt động ở Bỉ,

Anh, Hà Lan, Thụy Sĩ, Pháp,

Nhật, Bulgaria và Nam Tư.

Các trú sứ tình báo quân sự hoạt động hợp pháp tại nhiều nước.

Mỗi điệp viên đều có vỏ bọc trong sứ quán Liên Xô

hay ở chung với một phái đoàn Xô-viết nào đó.

Người điệp viên có thể là một quan chức ngoại giao, là lái xe hay chuyên viên kỹ thuật.

“Trước tiên ta tới Đại lộ Sevastopol. Vào thăm Jacqueline.”

“Sau đó chở tôi tới Phố Trakoder.”

Tháng 6/1941,

Phòng Tình báo quân sự trung tâm đã tuyển dụng được 914 người ở hải ngoại,

316 trong số đó làm cộng tác viên với trú sứ hợp pháp

còn 598 người là hoạt động bất hợp pháp.

Thậm chí cả Stalin cũng chỉ biết phần lớn những người này

qua mật danh. Bản thân ông cũng có quá đủ kinh nghiệm về hoạt động bí mật,

để hiểu rằng tên một điệp viên bị đề cập càng nhiều lần,

thì anh ta càng gặp nhiều nguy hiểm.

Kể từ mùa thu 1940, ngày càng có nhiều báo cáo cảnh báo

về việc tập trung quân Đức dọc biên giới Đức-Xô ở Ba Lan.

Tình báo quân sự Xô-viết nỗ lực tìm trả lời cho câu hỏi,

liệu Hitler có tấn công và nếu có,

thì khi nào.

Các báo cáo tới tấp cung cấp những thời điểm khác nhau

về cuộc xâm lược Liên Xô của Đức.

Ban đầu, họ cho rằng sẽ diễn ra vào tháng 3 hay 4/1941.

Sau đó có báo cáo mới rằng sẽ hoãn đến mùa hè,

nhưng tùy thuộc nước Anh có đầu hàng hay không.

Rồi có tin mới toanh rằng sẽ hoãn đến năm 1942.

Tình hình còn phức tạp thêm bởi thực tế rằng

người duy nhất biết chính xác dự tính của Hitler

chỉ có chính Adolf Hitler. Ông ta chỉ ký lệnh thông qua

Chiến dịch Barbarossa xâm lược Liên bang Xô-viết

ngày 10/6/1941,

12 ngày trước giờ thực hiện.

Ngày 18/6, Maskva bắt đầu

nhận được báo cáo từ điệp viên K (xin lỗi danngoc không thể tìm ra tên gọi này):

“Các đơn vị lục quân Đức đang chuẩn bị chuyện gì đó rất lớn. ..."

"... Rõ ràng không phải chuyện vài tháng hay vài tuần, ..."

"... mà là vài ngày nữa thôi.”

Nhưng mặc dù có cảnh báo, tình báo Xô-viết vẫn không thể

khẳng định chính xác điều gì, kể cả bức điện tín Thụy Điển

của Vorontsov.

Chỉ vài tuần sau,

Vorontsov sẽ được thăng làm Tham mưu trưởng Tình báo Hải quân,

và đến tháng 9, ông thành Trưởng ban tình báo.

Đây là công việc ông sẽ nắm giữ thêm 10 năm nữa,

nhưng ông phải tiếp quản một cơ quan tình báo

đã đui mù trước cuộc xâm lăng bất ngờ của Đức.

Chiến dịch Barbarossa

bắt đầu và mặc dù mọi cảnh báo,

Liên Xô vẫn chưa sẵn sàng.

Trong những ngày đầu của chiến tranh,

mọi trú sứ Xô-viết hợp pháp tại Đức,

các đồng minh của Đức và

tại những nước bị phe Trục chiếm đóng

đều bị chấm dứt và tất cả nhân viên sứ quán đều bị

trục xuất về Liên Xô.

“Những giấy tờ này phải bỏ vào túi ngoại giao.” “Tiêu hủy tất cả thứ còn lại.”

Tình báo quân sự Xô-viết mất liên lạc với các điệp viên

ở 11 nước Châu Âu.

Bản thân số điệp viên còn lại rất nhiều,

nhưng nếu không thể liên hệ được với Maskva thì họ chẳng mấy hữu ích.

Tình hình tương tự xảy ra với mạng lưới tình báo

được thiết lập dọc biên giới

khi quân đội Đức càn tới.

Liên lạc với hầu hết các điệp viên này bị mất,

mãi cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Các điệp viên Xô-viết hoạt động ở nước ngoài không có đủ điện đài

hay điện đài viên giỏi. Máy điện đài họ có

rất cồng kềnh và thiếu tin cậy,

thậm chí thiếu cả ắc quy.

Tầm hoạt động của các điện đài này là không quá 1.000 km,

tức là tín hiệu chỉ truyền đến được miền Tây Liên Xô.

Chúng không đủ mạnh để tới Maskva,

chứ đừng nói đến Kuibyshev, nơi Tổng hành dinh tình báo quân sự được sơ tán tới.

Mật mã và bảng mã khóa tình báo Xô-viết sử dụng

hồi đầu chiến tranh rất phức tạp và khó dùng.

Phải mất nhiều thời gian để mã hóa

và giải mã thậm chí các tin nhắn đơn giản nhất.

Tín hiệu truyền đi cũng dễ bị phản gián Đức bắt được,

họ tuần tiễu khắp thành phố với thiết bị dò hướng

để định vị các máy phát tín hiệu bất hợp pháp.

Máy dò hướng dùng ăng ten định hướng

để tìm ra nguồn phát tín hiệu điện đài.

Đến giữa thập niên 1930 nó được dùng bởi hầu hết các cơ quan phản gián.

Ba xe tải trang bị ăng ten định hướng di động

sẽ tuần tra khắp thành phố,

lùng tìm các tín hiệu điện đài bất thường.

Họ sẽ căn 3 góc theo tín hiệu

để định vị chính xác nơi đặt điện đài.

Ngay khi xác định được tòa nhà,

các đội cảnh sát sẽ bao vây

và xông vào bắt điện đài viên.

"Không được nhúc nhích!"

“Lục soát tất cả các phòng.”

“Đưa nó ra.”

“Đứng lên!”

Phản gián Đức khiến điệp viên Xô-viết gần như không thể liên lạc trực tiếp

với Maskva. Liên lạc với phần lớn số điệp viên Xô-viết trước chiến tranh

chỉ được nối lại vào năm 1945,

khi Hồng quân tiến vào Đông Âu.

Những cách liên lạc đối phó tạm thời, thường là thông qua người đưa tin,

được sử dụng để chuyển các thông tin tối quan trọng.

“Tài liệu để trong vali.”

“Chúng phải tới được Teheran. Không muộn hơn tuần sau.”

Nhưng trong khi vào thời bình người đưa tin có thể đi lại khắp Châu Âu,

thời chiến mọi chuyện lại khác hẳn.

Họ không chỉ gặp nguy hiểm bị Gestapo (Cơ quan Mật vụ SS) bắt,

mà còn có thể bị giết trong các cuộc tấn công vào tàu thủy,

tàu hỏa, đường bộ.

Tại Trung Hoa và Nhật, các điệp viên Xô-viết vẫn hoạt động tích cực.

Một vài “trú sứ” bất hợp pháp tiếp tục hoạt động trong vùng tạm chiếm

ở Pháp, Bỉ và Hà Lan.

Tình báo Xô-viết vẫn khá hiệu quả ở Mỹ,

Anh và các nước trung lập Thụy Điển và Thụy Sĩ.

Tháng 7/1941, Stockholm. Ba tuần sau khi Đức tấn công Liên Xô.

Nhìn bên ngoài, nhà kho trữ cá gần bến cảng

của thủ đô Thụy Điển trông bình thường như mọi tòa nhà khác xung quanh.

Nhưng bên trong nó chứa một bí mật.

Đây là nơi đóng của Ban Mã hóa và Giải mã

của Bộ Tổng tham mưu Lực lượng Vũ trang Thụy Điển.

Allan Nyblad, một người đưa tin của Bộ Chiến tranh Thụy Điển,

đang cân nhắc mình phải làm gì.

Bộ Tổng tham mưu tin tưởng giao cho ông chuyển đi các giấy tờ khẩn cấp và quan trọng nhất của họ.

Ông là người tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc và chỉ

trao gói hàng của mình tận đúng tay người nhận theo lệnh.

Điều này không có gì quá đặc biệt, nhưng Bộ trưởng Chiến tranh ấn tượng với tính tuyệt đối của ông.

Nhưng chính quyền Thụy Điển không biết rằng Nyblad

là cộng sản và là điệp viên Xô-viết.

Để thuận tiện cho người đưa tin đi lại,

xe đạp của họ gắn biển số đặc biệt,

tức là sẽ không bị cảnh sát địa phương chặn lại.

Một hôm, sau khi nhận được gói hàng phải gửi đến Bộ Tổng tham mưu,

Allan Nyblad đạp xe qua khu nhà kho yên tĩnh trên đường đi,

nhưng đột ngột quay ngoặt về một khu vắng vẻ rồi xuống xe.

Sau khi kiểm tra không bị ai theo dõi,

ông tháo biển số xe đặc biệt ra

và thay bằng biển xe thường.

Ông đến một ngôi nhà hai tầng, rồi bước vào.

“Vào đi!”

Soviet Storm: WW2 in the East subtitles in other languages

Comments

No comments yet. Be the first to leave one.

Keep it about this subtitle — sync, quality, typos.500 characters left