The first 200 lines.
TRONG VỊNH NƯỚC ANH
Ngày 22/6/1940,
Anh đơn độc chống lại Đức quốc xã. Pháp thì đã đầu hàng,
Thủ tướng Winston Churchill chỉ còn biết gằn giọng thách thức.
Chúng ta chiến đấu trên biển.
Ta chiến đấu trên bờ bãi.
Ta sẽ chiến đấu trên đồng ruộng và đường phố.
Ta sẽ chiến đấu trên đồi núi.
Chúng ta quyết không đầu hàng.
Anh vẫn còn nguồn lực lớn từ đế quốc rộng lớn của nó.
Canada, Úc, New Zealand, Nam Phi, Ấn Độ
và rất nhiều lãnh thổ khác đều mau chóng tuyên chiến với Đức.
Nhưng họ cách hàng ngàn cây số bên kia đại dương,
và sức mạnh quân sự của họ không thể vươn xa đến vậy.
Tình thế của Anh có vẻ vô vọng.
Hitler tin chắc rằng Anh sẽ phải nhanh chóng đàm phán hòa bình.
Nhưng Churchill cho thấy quyết tâm của ông
trong cuộc chiến chống lại Đức quốc xã.
Sức mạnh của hạm đội Pháp gồm hai thiết giáp hạm và hai tuần dương hạm đang neo ở
cảng Mersei Kebir tại Bắc Phi thuộc Pháp.
Nếu những tàu Pháp này rơi vào tay Đức,
vị trí Hải quân Anh ở Địa trung hải rơi vào thế bất lợi.
Do đó ngày 3/7, Hải quân Hoàng gia ra tối hậu thư
buộc tàu Pháp gia phải nhập với họ hoặc đưa tới cảng trung lập để vô hiệu.
Người Pháp từ chối.
Vậy là quân Anh nổ súng vào cựu đồng minh của họ.
Họ phá hủy hoặc gây thiệt hại nặng 3 thiết giáp hạm.
Gần 1.300 thủy thủ Pháp thiệt mạng.
Nhưng sự tàn nhẫn của Churchill không gây ấn tượng với Hitler.
Ngày 19/7, ông ta đại thắng trở về Berlin
và được hàng triệu người chào đón.
Hôm đó, Hitler phát biểu ở Reichstag, Quốc hội Đức,
đề nghị nền hòa bình cho nước Anh.
Món quà có vẻ hào phóng.
Anh có thể giữ đế chế.
Đổi lại, Hitler muốn rảnh tay ở Châu Âu.
Ông ta dự kiến chinh phục phương Đông, để giành không gian sống cho người Đức.
Nhưng Churchill từ chối.
Anh sẽ tiếp tục chiến đấu.
Ông gọi đây là thời khắc cao quý nhất của họ.
Sự phản kháng của Churchill lan rộng.
Vua George VI viết trong nhật ký,
"Riêng tôi, cảm thấy mừng hơn khi không còn đồng minh để phải lịch sự và nuông chiều."
Nhưng nước Anh khó có cửa xoay chuyển tình thế và giành chiến thắng.
Quân Anh đã sống sót ở Dunkirk,
nhưng họ đã mất gần hết xe tăng, pháo
và phương tiện vận chuyển khi sơ tán.
Họ chỉ còn 25 sư đoàn, được trang bị súng trường,
để đối đầu núi sắt thép khổng lồ của cỗ máy chiến tranh đáng sợ nhất thế giới.
Nên họ chả biết làm gì ngoài đào hào và chờ đợi.
Tuyến phòng thủ bờ biển được lập,
các pháo đài được xây khắp miền Nam nước Anh.
Biển báo đường cũng bị gỡ bỏ để
gây khó khăn cho việc tìm lối đi của quân xâm lược.
Cái bãi rộng được đặt chướng ngại vật để ngăn cản lính dù.
Lực lượng bảo vệ tình nguyện, Vệ binh quốc gia được tuyển mộ.
Họ gồm những người không đủ tiêu chuẩn chiến đấu, thường là do tuổi tác của họ.
Tới cuối tháng 6/1940, đã có gần 1,5 triệu tình nguyện viên gia nhập.
Nhưng chẳng có nhiều vũ khí để trang bị cho họ.
Trong khi đó, Hitler lập kế hoạch xâm lược,
mang mật danh Chiến dịch "Sư tử biển".
Khoảng 20 sư đoàn đổ bộ lên mặt trận dọc bờ biển miền nam nước Anh.
Sà lan được tập hợp từ khắp Tây Bắc châu Âu.
Chúng nhanh chóng được cải tiến thành tàu đổ bộ.
Quân đội được luyện tập để đổ bộ trên bờ biển.
Hitler ngông cuồng, nhưng nhóm lên kế hoạch "Sư tử biển" cảm thấy lo ngại.
Hitler coi biển Manche như một con sông bình thường phải qua.
Nhưng hải quân Anh vẫn hùng mạnh nhất thế giới.
Nó có thể dàn mỏng để làm nhiệm vụ khắp nơi,
Hạm đội của Hải quân Hoàng gia vượt trội hải quân Đức.
Tư lệnh Hải quân Đức, Đô đốc Erich Raeder,
không tin rằng ông đủ khả năng kiểm soát biển Manche
đủ lâu để quân đổ bộ vượt qua.
Nhưng người Đức có một lực lượng chiếm ưu thế rõ rệt.
Không quân Đức bỏ xa Không lực Hoàng gia Anh.
Tư lệnh Không quân Đức, Hermann Goring,
khẳng định có thể kiểm soát không phận
trên biển Manche đủ lâu để chiến dịch "Sư tử biển" tiến hành.
Ngày 10/7, Không quân Đức bắt đầu tấn công tàu bè trên biển Manche.
Đáp lại, Anh có 2 loại máy bay đặc biệt
trong dòng tiêm kích đơn, 1 lớp cánh trang bị nhiều loại súng.
Supermarine Spitfire
và Hawker Hurricane.
Chiếc Spitfire bay nhanh và cơ động
hơn địch thủ Đức, Messerschmitt Bf 109,
loại dùng hộ tống oanh tạc cơ Đức.
Nó dùng để đánh chặn những máy bay này.
Chiếc Hurricane đã chứng tỏ là sát thủ của oanh tạc cơ.
Nhưng vào tháng 7/1940, phó Tư lệnh Không quân, tướng Hugh Dowding,
chỉ huy Bộ tư lệnh Không chiến, chỉ còn dưới 700 máy bay tiêm kích.
Chống chọi với hơn 2,600 tiêm kích và oanh tạc cơ của Đức.
Một tỉ lệ quá bất lợi cho Không lực Hoàng gia.
Dowding biết không thể đọ nổi với Không quân Đức
mỗi khi họ tràn tới biển Manche.
Nên khi Đức đánh tàu của Anh, ông không hành động gì.
Mà chỉ dùng RAF để ngăn cản
Không quân Đức củng cố quyền lực tối thượng cần có trên bầu trời.
Do đó, ông chỉ đáp trả các cuộc tấn công lớn.
Để giúp ông, người Anh có một phát minh rất quan trọng.
Radar.
Tới thập niên 1930, giới khoa học của cả Anh và Đức
biết có thể dò vật thể ngoài tầm nhìn của mắt người
bằng cách phản xạ sóng vô tuyến của chúng, và
đo thời gian để tín hiệu đó quay trở lại.
Ở Anh, nhóm nhà khoa học do Robert Watson-Watt dẫn đầu
bắt đầu phát triển radar làm công cụ phát hiện
máy bay từ xa đang bay tới.
Công trình của họ được Dogding tận dụng ngay.
Ông dùng radar làm cốt lõi cho hệ thống xác định không phận đầu tiên trên thế giới.
Với cái tên Chain Home, đó là một chuỗi 21 cột
các radar cao 90m nằm gọc bờ biển phía Nam
và bờ Đông nước Anh.
Chúng có thể phát hiện máy bay từ tầm xa 190km và
cho họ biết khoảng cách, hướng, độ cao và số lượng.
Thông tin này đưa về trụ sở Bộ tư lệnh Không lực Hoàng Gia ở Bently Priory,
ngay ngoại ô London,
Các đánh giá và cảnh báo về cuộc tấn công sắp tới
sẽ được chuyển về phòng tác chiến của Bộ Tư lệnh Không chiến.
Ánh trăng 14, Sky Blue bắt mục tiêu số trên 1, kênh "G" George.
Rõ
Người điều khiển báo cho sân bay RAF gần nhất về số lượng các phi cơ.
Câu hỏi đặt ra là, radar có thể bù đắp
ưu thế rất lớn về quân số của Đức?
Tình thế này đã đặt ra cho thứ được biết với cái tên "Trận chiến nước Anh".
Từ tháng 7/1940, máy bay của Không quân Đức đã
bắn phá các tàu vận chuyển của Anh ở eo biển Manche.
Tư lệnh Không quân Đức, Thống chế Hermann Goering,
quyết tâm nhử bằng được Không lực Anh tham chiến.
Nhưng Tư lệnh Không chiến Anh, tướng Dowding không bị mắc câu.
Ông dùng tiêm kích rất dè dặt, vì biết trận chiến thực sự còn chưa đến.
Đó là giai đoạn đầu "Cuộc chiến nước Anh" mở màn,
chống lại lực lượng vượt trội về số lượng của Không quân Đức.
Nó có 1.100 tiêm kích đơn so với 700 chiếc của Không lực Hoàng gia Anh.
Hầu hết mọi tiêm kích của Đức là chiếc Messerschmitt Bf 109E
với tốc độ tối đa khoảng 560km/h.
Khoảng 2/3 tiêm kích của Anh là chiếc Hawker Hurricanes,
chậm hơn chiếc 109, nhưng linh hoạt hơn.
Còn lại là Supermarine Spitfire,
có tốc độ tương đương chiếc 109.
Vào trận, Đức có hơn 1.300 máy bay ném bom tầm trung,
Domier Do 17s, Heinkel He 111s và Junkers Ju 88s,
mỗi chiếc chở được 1.8 tấn bom.
Goring chọn ngày 13/8 là "Adlertag", "Ngày Đại Bàng",
để bắt đầu cuộc tấn công.
Mục tiêu là phá hủy máy bay của Anh trên không,
ở sân bay của RAF và nhà máy sản xuất máy bay của Anh.
Các cuộc tấn công dọn đường xảy ra từ hôm trước.
Tập trung vào các sân bay và
tháp radar dọc theo bờ biển phía Nam.
Một trạm radar trên đảo Wight ngừng hoạt động do bị đánh hỏng,
nhưng đã vận hành trở lại chỉ sau vài giờ.
Goring không tin rằng radar có vai trò quan trọng trong trận chiến,
nên không lặp lại các cuộc tấn công này.
Đó là sai lầm lớn.
Sáng "Ngày Đại Bàng" trời mây âm u, nên cuộc tấn công bị hoãn đến buổi chiều.
Khi họ đến, radar có thừa thời gian báo động.
Đài gọi, có máy bay cách 5km về phía Nam.
Không hề ít, hầu hết sân bay của RAF phía Nam đều bị tấn công.
Nhưng tới tận cuối ngày, không có sân bay nào bị tê liệt.
Không quân Đức rơi 46 máy bay.
Anh chỉ mất 13.
Không quân Đức mở cuộc tấn công lớn nhất trong cả đợt, vào ngày 15/8.
Những làn sóng oanh tạc cơ nặng nề của Đức
phải được hộ tống để bay ngang các sân bay của RAF.
Không quân Anh căng tới mức
một số phi công bay 7 phi vụ trong ngày hôm đó.
Khi trận không tập tạm lắng, khoảng 90 máy bay của Đức
đã bị bắn hạ cùng với 42 chiếc tiêm kích của người Anh.
Cuộc chiến tiếp tục khốc liệt như thế trong vài ngày kế tiếp.
Cả hai bên đều kiệt sức dần.
Dowding luân phiên phi công nghỉ ngơi,
nhưng ông vẫn không thể có đủ người.
Nhiều phi công được đưa vào trận chỉ với kinh nghiệm 10 giờ bay.
Không quân Đức cũng khốn khổ.
Phi công bị sốc và ngày càng nản chí
trước sự kiên cường của quân Anh.
Các tiêm kích của RAF cứ như đón đầu được họ.
Đến khi cuộc chiến được 12 ngày tròn,
thiệt hại của quân Anh bắt đầu tiến dần tới mức của Đức.
Không lực Hoàng gia gần như kiệt quệ.
Để xoay chuyển tình thế, Goring dùng máy bay ném bom ban đêm.
Nhưng quyết định này mang lại hậu quả không ngờ.
Đêm 24/8, một oanh tạc cơ Heinkel lạc đường, đã ném bom vào London.
Đó là cuộc tấn công đầu tiên vào mục tiêu phi quân sự.
Ngay đêm sau, 81 oanh tạc cơ của Anh tấn công đáp trả vào Berlin.
Hitler nổi giận và ra lệnh trả đũa trên diện rộng.
Cuộc trả đũa bắt đầu vào đêm mồng 7/9.
Oanh tạc cơ Đức tấn công bến tàu London và vùng phụ cận.
Hơn 450 người chết và hàng ngàn ngôi nhà bị phá hủy.
Thực ra đây là sai lầm lớn thứ hai của Goering.
Bởi đã rời bỏ các sân bay của RAF
ngay khi nó sắp sụp đổ, ông đã cho nó thời gian nó cần.
Nếu Goring tiếp tục tấn công các sân bay,
RAF đã không thể tiếp tục bảo vệ bầu trời.
Ngày 15/9, radar của Anh phát hiện
cuộc tấn công lớn khác vào London.
Làn sóng 100 oanh tạc cơ và 400 tiêm kích đầu tiên bị chặn lại.
Cuộc chiến nổ ra từ ngoài bờ biển.
Vào buổi chiều, làn sóng 150 oanh tạc cơ khác mở cuộc tấn công mới.
Winston Churchill hôm đó đang ở trụ sở Bộ tư lệnh Không chiến.
No comments yet. Be the first to leave one.