The first 200 lines.
.: PHUDE VIET .ORG :.
IN MY FATHER'S DEN
Biên dịch: Altair | Biên tập: Dr. House
Một ngày nọ, ở một thị trấn bên rìa thế giới.
Thủy triều xuống và không bao giờ trở lại.
Biển rút đi không lời nói trước.
Ban đầu, mọi người còn bối rối chút.
Họ vẫn tám và đánh vật với những chuyện xưa cũ.
Nhưng dần dần sự im lặng thấm thấu
Một sa mạc lớn đến khó tin hiện dần ra trước mắt họ.
Là gia đình, bạn bè chúng ta đến đây với
để vĩnh biệt và đau buồn cho ông ấy.
Chúng ta đặc biệt nghĩ tới gia đình ông.
Andrew, Penny, Jonathan.
Vì sự ra đi của một người cha, bố chồng, và một người ông.
Một phần khổ đau của ta là hối tiếc về những việc ta đã làm
hoặc chưa làm được
những lời đã nói...
... hoặc chưa bao giờ nói.
Vâng?
Andrew ở đây phải không?
Chắc cậu là Paul rồi.
Vào nhà đi.
Chị tên Penny.
- Chào chị Penny. - Chị là vợ anh Andrew.
Họ ở trong đây.
Andrew?
Xin lỗi...
Máy bay của em bị trễ ở Hồng Kông.
Paul hả?
Cảm ơn.
- Andrew? - Cảm ơn.
Jonathan.
London thế nào? Em ở đó phải không?
Thực ra dạo này em ở Istanbul nhiều hơn.
Chúa ơi, mẹ nó, dạo này hay bị mất thăng bằng.
Không sao cả.
Nhà anh đẹp quá. Anh làm tốt lắm.
Để anh kêu chị dọn giường ở phòng trống.
- Không cần. Em đã đặt phòng từ London rồi. - Không có gì đâu mà.
Em đặt rồi. Em đặt rồi anh ơi. Cảm ơn.
Vậy...
Thế là bố mất rồi.
Paul, đợi đã!
Paul, đợi đã!
Paul, quay lại đi!
Paul, đừng đi!
Paul!
Andrew!
Cái đệt! Gặp luật sư.
Xin lỗi.
Xin lỗi. Em đã rất muốn tới.
Em ngủ quên. Buổi gặp thế nào?
Ông ấy để lại cho chú một phần ba.
À, anh xứng được nhận hai phần ba.
Ổng cũng cho anh một phần ba thôi.
Phần còn lại?
Ổng để làm từ thiện.
Anh cần phải nói tiếp việc này.
Chúng ta cần dọn dẹp vườn cây ăn quả và căn nhà tranh. Anh không thể đợi mãi được.
Anh đã đặt hẹn luật sư cho em vào Thứ ba.
Em sẽ tạt qua sau.
Em không thể "tạt qua" được.
Em không thể "tạt qua" được, Paul à.
Phải.
Anh biết gì không?
Em lại có công việc khác.
Vậy nên mai em đi.
Em có những chuyện quan trọng hơn mà.
Hẹn 17 năm nữa gặp lại em.
Anh đừng có như ông...
Đừng cái gì?
Em đã ở đây được bao lâu? Hai ngày?
Em quên rằng chỉ còn anh
và em thì y như lúc mẹ vừa mất.
Đừng nhắc tới mẹ.
Ít nhất thì phải có phép tắc khi làm thế.
Phép tắc?
Em nghĩ em có phép tắc lắm à?
Tới đây như một ngôi sao điện ảnh với cái giọng của em?
Anh không biết gì về em cả, Andrew.
Bố muốn gửi em những món này.
Anh suýt quên.
Người ta đưa anh trong buổi họp hội đồng.
Em làm rớt ở quán rượu bữa trưa sau lễ tang.
Nó giúp ích khi về nhà đấy.
Em không cần phải nói dối anh.
Lúc đầu không ai nghĩ là em về cả.
Con đổ đi một chai rượu ngon đấy.
Sao con biết chỗ này.
Con nghe tiếng nhạc.
Mẹ không biết chỗ này sao?
Không.
Không sao.
Con có thể ở lại.
Một ngày nọ ở một thị trấn bên rìa thế giới.
Thủy triều xuống và không bao giờ trở lại.
Cậu nghĩ khi nào thì ta biết?
Một khi ta có mẫu máu và tăm bông, chắc vài ngày.
Em đã hoãn chuyến đi. Em sẽ dọn dẹp căn nhà.
Paul.
Cảm ơn.
Trà xanh này.
Anh ấy làm gì ở dưới đó?
Có bệnh dịch gì đó. Cầu trời cho lũ đà điểu khỏe lại.
Anh ấy rất lo cho em, Paul à.
Anh ấy chưa hề kể với Jonathan về em.
Anh chị đều có cách riêng để ứng phó mọi chuyện.
Em không tin nổi là chị giống mẹ quá.
Cô ấy là ai?
Hy vọng.
Cô ấy đang khóc à?
Cô ấy đang suy nghĩ.
Về cái gì?
Nhiều chuyện.
Lạy chúa!
Em làm gì ở đây?
Em tìm thấy chỗ này không ai lui tới, nên...
Ông ấy cho em đến đây à?
Không.
Có ai biết em tới đây đâu.
Chắc em nên đi.
Anh nghĩ phải thế rồi.
Anh cho em vài phút để thu dọn đồ.
Paulie!
- Paulie Prior? - Chào dì Winnie.
- Coi ai đây này. - Dì khỏe không?
Dì kiếm con ở lễ tang và dì nghĩ...
Chắc thằng nhóc ở đâu đây thôi. Mình không nhận ra nó thôi.
Con có một số trục trặc trên đường.
Tội nghiệp thật. Con nhớ Pat nhỉ.
Pat, coi ai nè. Paulie đấy.
Cô Seager!
À, à...
Chào Paul.
Con không biết cô còn ở đây đấy.
Sao? Con nghĩ cô về với cát bụi rồi à?
Và nó còn có một giọng nói dễ thương nữa.
Vùng chiến sự.
Từ vụ diệt chủng ở Ruwanda
tới những cuộc chiến bất tận ở Trung Đông
và nỗi kinh hoàng của xung đột ở Bosnia.
Vùng chiến sự là cả mái ấm và công việc
của người bạn các em sắp gặp trong một thập kỷ qua.
Một người mà sự cống hiến và lòng dũng cảm
đã mang lại cho anh danh tiếng trên trường quốc tế.
Chưa nói đến
những giải thưởng anh đạt nhờ các bài viết và bức ảnh của mình.
Và anh là một học trò cũ thân thương của tôi
người mà tôi dạy ngay trong tòa nhà này.
Xin giới thiệu Paul Prior.
Cảm ơn.
Một bài giới thiệu rất hay.
Học bạ của em còn chưa bao giờ tốt như vậy.
Sự thật là
tôi bị gọi bằng nhiều thứ tên lắm
nhiều thứ tồi tệ hơn nữa từ khi tôi rời tòa nhà này.
Kênh kênh, ký sinh, đỉa.
Và thú vị là những từ nhục mạ nhau nghe bằng thứ tiếng nào cũng vậy.
Tôi từng bị
bắt giữ ba ngày và đái lên người ở chỗ công cộng.
Tôi thật không biết nói gì
nhưng tôi rất vui được trả lời bất kỳ câu hỏi nào các em có.
Anh ấy là người vào chung kết giải Pulitzer.
Pulitzer? Là cái gì vậy trời?
Một giải thưởng lớn.
Anh ấy có một trong ba cơ hội thắng đấy.
Sao cậu biết mấy thứ này?
Tớ đọc một bài phỏng vấn.
Nghe như một chú sói cô độc.
Làm tớ nhớ lại tớ định đi xăm.
Một con kỳ lân nhỏ, ngay đây.
Tại sao?
Steve cũng có hình y chang à?
Không, tại tớ nghĩ nó sẽ chơi thôi.
À vậy chuyện với Jake thế nào?
Dẹp đê.
Nói tớ đi!
Thì...
đầu tiên tụi tớ có buổi đi dạo dưới ánh trăng ở bờ biển
và bữa ăn tối trong ánh nến
rồi anh ấy nói tớ có một đôi mắt đẹp.
Thật à?
Không, con les này.
Cậu ta chỉ mang đồ uống tới Big Day Out.
Cậu ta cứ...
"Mẹ nó. Đĩ nó."
Tớ nghĩ mọi chuyện đã rõ ràng.
Hôm nay em đọc báo địa phương.
Trang đầu.
Trời ại.
Thật sự em đã quên mất yên tĩnh là sao.
Em cứ nghe thấy tiếng chuông điện thoại trong tai từ khi về đây.
Có lẽ sự thay đổi ở đây sẽ tốt cho em.
Như cô đã nói, nếu em chán chụp hình chiến tranh.
Cô nói nghiêm túc đấy chứ?
Trường đang thiếu ba người.
Cô biết nghe nó hơi tuyệt vọng nhưng...
Cô Pat ơi, không có hy vọng gì đâu, em chưa dạy học bao giờ cả.
Em ra đi và khẳng định được mình. Còn gì hơn được nữa?
No comments yet. Be the first to leave one.